9 phút đọc 10 thg 2 2020
Man canyoneering backpack rappeling down waterfall in canyon

Vì sao ngành ngân hàng toàn cầu tiếp tục phải đối mặt với thách thức về mặt lợi nhuận trong năm 2020

Các tác giả

Jan Bellens

EY Global Banking & Capital Markets Sector Leader

Passionate leader on innovation in financial services, especially in emerging markets. Global citizen. Keen traveler.

Karl Meekings

EY Global Banking & Capital Markets Lead Analyst

Developing views on the future of banking. Fulham FC follower. Germanophile. Medievalist.

Người đóng góp
9 phút đọc 10 thg 2 2020

Các ngân hàng tại nhiều khu vực trên thế giới sẽ cần tập trung giải phóng vốn để đầu tư thúc đẩy tăng trưởng cho tương lai.

Bài viết này là một phần trong loạt bài của chúng tôi về chủ đề Ngân hàng trong thập kỷ mới.

Các ngân hàng đã trải qua một năm 2019 đầy thách thức, với những kết quả kinh tế yếu kém giữa bối cảnh căng thẳng chính trị toàn cầu, bao gồm căng thẳng thương mại Mỹ - Trung và những bất ổn liên quan đến Brexit.

Đến năm 2020, những vấn đề này vẫn chưa được giải quyết, ngay cả khi Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) đã dự báo tăng trưởng toàn cầu sẽ tăng nhẹ, việc nới lỏng chính sách tiền tệ tại Mỹ và châu Âu có thể gây nhiều áp lực hơn lên biên lợi nhuận ngân hàng và làm tăng trưởng doanh thu chậm lại1. Các nhà phân tích ước tính chỉ một nửa trong số 50 ngân hàng lớn nhất thế giới sẽ đạt được tỷ lệ lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) trên hai chữ số trong năm nay.

Global Banking graphic 1

Cạnh tranh gia tăng từ các đối thủ cạnh tranh mới vốn đầy tính sáng tạo cũng đang làm giảm biên lợi nhuận của ngân hàng. Những đối thủ mới này trở nên vô cùng hấp dẫn không chỉ với khách hàng mà với cả các nhà đầu tư. FinTechs (và BigTechs) được hưởng lợi từ việc không có các hệ thống cũ, điều này cho phép họ đầu tư vào công nghệ mới nhất và trải nghiệm khách hàng thay vì chỉ giữ các hệ thống đang hoạt động. Và mặc dù nhiều ‘kẻ thách thức’ đang trong giai đoạn đốt tiền kéo dài, phần lớn trong số họ được định giá cao hơn đáng kể so với giá trị sổ sách. Ngược lại, ngân hàng thường bị định giá thấp hơn giá trị sổ sách - giá trị của toàn bộ các ngân hàng niêm yết ở châu Âu chỉ cao hơn một chút so với Apple.

Những chỉ số ROE này không thể làm hài lòng các nhà đầu tư xét về lâu dài, trừ khi chúng cũng đi kèm với biến động ở mức độ thấp. Do đó, các ngân hàng phải cải thiện trải nghiệm khách hàng để duy trì doanh thu, đồng thời cắt giảm chi phí. Đây là nhân tố thúc đẩy lượng đáng kể các sáng kiến chuyển đổi công nghệ số. Nhiều ngân hàng lớn đã công bố các khoản đầu tư công nghệ trị giá hàng tỷ đô la, mặc dù chưa rõ cách các ngân hàng kỳ vọng sẽ tối đa hóa lợi nhuận trên các khoản đầu tư này như thế nào.

Điều chắc chắn là ngành ngân hàng vẫn cam kết đầu tư vào công nghệ để chuyển đổi trải nghiệm khách hàng, ngay cả trong môi trường tăng trưởng thấp.

Điều chắc chắn là ngành ngân hàng vẫn cam kết đầu tư vào công nghệ để chuyển đổi trải nghiệm khách hàng, ngay cả trong môi trường tăng trưởng thấp. Thách thức ở đây sẽ là làm cách nào để giải phóng vốn để rót vào các khoản đầu tư này, vì có nhiều yếu tố khác nhau tác động đến tỷ suất lợi nhuận và định hình các cơ hội trên khắp các khu vực của thế giới.

Châu Âu tập trung vào kiểm soát chi phí

Ở châu Âu, tỷ lệ vốn cao hơn và sự sụt giảm đáng kể tỷ lệ nợ xấu (NPL) cho thấy ngành ngân hàng khá lành mạnh. Tuy nhiên, nền kinh tế châu Âu vẫn đang yếu. Căng thẳng thương mại và tình hình bất ổn liên quan đến Brexit đã góp phần khiến cho tỷ lệ tăng trưởng Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) thấp, với việc Đức và Anh thoát được suy thoái kinh tế trong gang tấc. Việc nới lỏng tiền tệ hơn nữa trong Eurozone sẽ tiếp tục làm giảm tỷ suất lợi nhuận và kìm hãm doanh thu, trong khi lãi suất âm có nghĩa là biên tiền gửi, một trong những phần đóng góp doanh thu cho ngành đáng kể trước cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, hiện lại là một lực cản đáng kể. Ngoài ra, một số chủ trương nghị định chính sách ở châu Âu tiếp tục làm tăng chi phí tuân thủ tại các ngân hàng và quy tắc vốn mới (Basel IV, sẽ được thực hiện trong khoảng từ năm 2022 đến 2027) có thể buộc các ngân hàng phải duy trì nhiều vốn hơn.

Những quan ngại về tỷ suất lợi nhuận, đặc biệt là tại các ngân hàng yếu nhất châu Âu, đang thúc đẩy gia tăng các cuộc thảo luận về hợp nhất trong toàn ngành. Châu Âu đang có quá nhiều ngân hàng – trung bình cứ mỗi 82.000 người ở Châu Âu có một ngân hàng. Hầu hết các ngân hàng hoạt động không hiệu quả, với nhiều chương trình chuyển đổi chi phí trong thập kỷ qua vẫn không hạ được chỉ số hiệu suất xuống dưới 60%. Tỷ lệ chi phí trên thu nhập trung bình của các ngân hàng châu Âu là 62,3%. ROE trung bình vẫn thấp hơn chi phí vốn chủ sở hữu, ở mức dưới 7%. Những cải thiện gần đây về tỷ suất lợi nhuận được thúc đẩy chủ yếu bởi sự giảm tốc độ giảm giá trị tài sản xuống chứ không phải do tăng trưởng từ thu nhập, cho dù điều này cũng có thể chịu những tác động tiêu cực do triển vọng cho năm 2020 suy yếu.

Hiệu quả ngân hàng

62.3%

Tỷ lệ chi phí trên thu nhập trung bình của các ngân hàng châu Âu

Nguồn: Phân tích của EY, S&P Global Market Intelligence

Tuy nhiên, M&A xuyên biên giới có thể sẽ vẫn ở mức thấp, nếu không có những thay đổi về cấu trúc như tiến triển từ Liên minh Ngân hàng, bao gồm cả Chương trình Bảo hiểm Tiền gửi Châu Âu. Ngay cả khi những trở ngại về cấu trúc này được giải quyết, bất kỳ ngân hàng nào muốn tăng trưởng (hoặc thu hẹp) vẫn cần phải suy nghĩ cẩn thận về việc làm thế nào để tăng tích lũy giá trị. Làm thế nào để phát triển thông qua việc mua lại mà không làm mất đi giá trị? Làm thế nào để dừng các sản phẩm dịch vụ kinh doanh mà không cần phải tiếp tục chịu chi phí của các hệ thống cơ bản?

Với tiến trình hợp nhất chỉ có thể thấy trước trong dài hạn, năm 2020, nỗ lực trọng tâm của các ngân hàng trong việc cải thiện tỷ suất lợi nhuận sẽ là cắt giảm chi phí. Trên thực tế, nếu không tăng trưởng doanh thu, các ngân hàng châu Âu sẽ cần phải cắt giảm gần một phần tư chi phí để đạt được mục tiêu ROE điển hình của ngành là 12%. Điều này đòi hỏi các ngân hàng phải nhìn xa hơn, không chỉ thực hiện các phương pháp cắt giảm chi phí truyền thống, mà phải nghĩ tới việc chuyển đổi triệt để bao gồm việc sử dụng rộng rãi các dịch vụ được quản lý hoặc các tiện ích chuyên ngành, để thực hiện các hoạt động quan trọng dù không phải là hoạt động lõi một cách tiết kiệm chi phí. Việc thu nhỏ quy mô và cơ cấu lại các mạng lưới chi nhánh cũng là cần thiết, bên cạnh việc tăng mức độ tự động hóa, đơn giản hóa các sản phẩm, dịch vụ, và các quy trình cơ bản và sử dụng các hình thức hợp tác đối tác để xây dựng quy mô. Với các yếu tố nền tảng đầy thách thức như vậy, khó khăn đối với các ngân hàng sẽ là quyết định làm thế nào giải phóng vốn để đầu tư vào mục tiêu chuyển đổi này.

Cuộc chiến tranh giành nhân tài của Mỹ giữa lúc chuyển đổi công nghệ

Tại Mỹ, ngành ngân hàng tiếp tục mang lại tỷ suất lợi nhuận hai chữ số, đưa các ngân hàng Mỹ vào vị thế tương đối mạnh. Sự phục hồi trở lại trong thị trường tài chính đã thúc đẩy các hiệu suất kỷ lục đối với một số tổ chức trong năm tài chính 2019, nhưng liệu điều này có thể được duy trì? Thị trường nhìn chung vẫn tích cực; trong khi đã có sự sụt giảm trong niềm tin kinh doanh, thì niềm tin của người tiêu dùng - động lực cốt lõi của nền kinh tế Mỹ - vẫn duy trì ở mức cao.

Global Banking graphic 3

Điều này có thể thúc đẩy hiệu suất khác biệt trong các phân khúc ngân hàng thương mại và bán lẻ, nhưng ngay cả trong ngân hàng bán lẻ, rủi ro vẫn tồn tại. Các ước tính cho thấy khoảng một phần ba lực lượng lao động Mỹ là lao động tự do, một phần của nền kinh tế theo thời vụ. Với việc có nhiều lao động với công việc không ổn định, nếu mức tiêu dùng chậm lại hoặc các công ty cắt giảm chi phí bằng cách giảm nhân viên, tỷ lệ thất nghiệp cao hơn dẫn đến một số khách hàng phải vật lộn để trả nợ và kết quả là gia tăng tỷ lệ nợ xấu của ngân hàng. Điều này có nghĩa là các ngân hàng Mỹ cũng cần phải tìm cách tăng hiệu quả để duy trì tỷ suất lợi nhuận và hỗ trợ chương trình chuyển đổi công nghệ số.

Tuy nhiên, khả năng thích nghi cơ bản của ngành ngân hàng Mỹ cho thấy ngay cả khi hiệu suất suy yếu, các ngân hàng vẫn có khả năng tiếp tục đầu tư vào công nghệ và chuyển đổi công nghệ số, để cải thiện trải nghiệm khách hàng và cắt giảm chi phí. Để thực hiện mục tiêu này, các ngân hàng sẽ tiếp tục đóng cửa chi nhánh, cho thấy sự gia tăng ưu tiên của khách hàng đối với các kênh ngân hàng số, và hoạt động mua bán sáp nhập. Thị trường Mỹ thậm chí có tỷ lệ dư thừa ngân hàng còn lớn hơn cả châu Âu, và không phải tất cả các ngân hàng đều có thể đầu tư vào chương trình công nghệ số mà khách hàng đang đòi hỏi.

Global Banking graphic 4

Một số ước tính cho thấy đầu tư vào công nghệ khiến 200.000 việc làm trong ngành bị cắt giảm trong thập kỷ tới 2. Nhưng trong khi các ngân hàng có thể giảm số lượng nhân viên ở một số khu vực nhất định, việc triển khai các công nghệ mới đòi hỏi nhân viên ngân hàng phải phát triển các kỹ năng mới. Ở đây chúng tôi dự đoán những thách thức liên quan được đặt ra với ngành ngân hàng.

Các ngân hàng nói chung thừa nhận họ cần thuê các cá nhân có hiểu biết tốt về công nghệ mới nhưng đang gặp khó khăn để tuyển được đúng người. Mặc dù các ngân hàng vẫn là một nhà tuyển dụng được ưa chuộng đối với sinh viên tốt nghiệp ngành kinh doanh, không có ngân hàng truyền thống nào có tên trong 30 công ty hấp dẫn nhất đối với kỹ sư, và chỉ có hai ngân hàng có tên trong 30 công ty hấp dẫn nhất đối với sinh viên tốt nghiệp ngành khoa học máy tính3. Cạnh tranh trong việc thu hút tài năng hàng đầu với các công ty công nghệ toàn cầu cũng như một số ngân hàng toàn cầu có khả năng khiến hầu hết các ngân hàng Mỹ phải đối mặt với tình trạng thiếu nhân viên thường xuyên có thể hỗ trợ các sáng kiến số hóa của họ. Tuyển dụng và duy trì nhân viên để hỗ trợ chuyển đổi công nghệ số có khả năng sẽ trở thành một chiến trường mới đối với ngành ngân hàng.

Cạnh tranh tại khu vực Châu Á - Thái Bình Dương thúc đẩy đầu tư vào chuyển đổi công nghệ số

Các ngân hàng ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương sẽ không thoát khỏi áp lực lợi nhuận. Năm 2019, chúng tôi đã quan sát việc cắt giảm lãi suất tại một số ngân hàng trung ương, bao gồm cả các ngân hàng ở Ấn Độ, Úc và Hồng Kông, nơi đang trải qua một sự suy giảm kinh tế và thâm hụt ngân sách lần đầu tiên trong hơn một thập kỷ. Nhiều nền kinh tế châu Á dựa trên xuất khẩu sản xuất, và tình trạng nhu cầu suy giảm ở châu Âu hoặc châu Mỹ sẽ ảnh hưởng tới các thị trường này, làm tăng tỷ lệ nợ xấu và chi phí giảm giá trị tài sản đi kèm.

Global Banking graphic 5

Mối quan tâm lớn hơn là rủi ro mà các đối thủ cạnh tranh mới đặt ra cho các ngân hàng hiện hữu. . Châu Á - Thái Bình Dương là quê hương của các đối thủ BigTech thành công, là nơi các công ty FinTech phát triển mạnh và có các ngân hàng số hàng đầu. Việc có ngân hàng mở (open banking) trong khu vực, cho dù được thúc đẩy bởi quy định như ở Úc, hay tự phát triển như ở Trung Quốc, sẽ khuyến khích sự cạnh tranh

Tự do hóa ở Trung Quốc cũng có khả năng thay đổi tính cạnh tranh trong khu vực. Trong nhiều năm, thị trường tài chính của đất nước này không mở cửa đối với các tổ chức tài chính nước ngoài, nhưng điều này dường như sẽ thay đổi trong bối cảnh cải cách để chuẩn hóa các quy tắc gia nhập thị trường và xóa bỏ sự mơ hồ về chính sách gia nhập của các tổ chức tài chính nước ngoài.

Những động lực cạnh tranh này có nghĩa là các ngân hàng trong khu vực sẽ cần tiếp tục đầu tư xây dựng năng lực ngân hàng số để cải thiện hiệu quả và năng suất, tạo điều kiện phục vụ khách hàng hiệu quả nhất có thể trên tất cả các thị trường. Thực hiện thành công điều này sẽ giúp các ngân hàng tiếp cận được nhiều khách hàng hơn, đặc biệt là các đối tượng chưa có tài khoản ngân hàng hoặc ít khi sử dụng dịch vụ ngân hàng, và các doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ và vừa, mà chúng tôi ước tính có thể tạo thêm 88 tỷ đô la doanh thu trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương.

Không nên trì hoãn tiến trình chuyển đổi vì sự chưa chắc chắn

Nền tảng được đặt ra trong thập kỷ qua cho phép hầu hết các ngân hàng chuẩn bị tương đối tốt để đối mặt với các thách thức thị trường hiện tại, ngay cả khi điều kiện trở nên tồi tệ hơn. Cuộc khảo sát lần thứ 10 về quản trị rủi ro ngân hàng toàn cầu của EY/ Viện Tài chính Quốc tế (IIF) cho thấy các lãnh đạo ngân hàng tương đối lạc quan về khả năng vượt qua suy thoái, có lẽ vì các cơ chế hiện tại đang giúp họ thích nghi với sự thay đổi của điều kiện bên ngoài. Sự linh hoạt này, nếu có thật, sẽ trở nên rất quan trọng khi thị trường xấu đi.

Global Banking graphic 6

Tăng ROE

US$200b

là con số cắt giảm chi phí cần thiết đối với 200 ngân hàng lớn nhất thế giới để đạt được chỉ số ROE 12%

Nguồn: Phân tích EY, S&P Global Market Intelligence 

Năm 2020, chúng tôi thấy các ngân hàng tập trung vào các việc thực hiện chuyển đổi để tinh gọn các hoạt động kinh doanh và phục vụ khách hàng tốt hơn. Trong bối cảnh đó, các ngân hàng cần một cơ sở hạ tầng kiểm soát mạnh mẽ để quản lý sự thay đổi, nhưng cũng cần đầu tư mạnh vào công nghệ.

Nhiều ngân hàng đã công bố ngân sách công nghệ đáng kể, mặc dù thường không rõ bao nhiêu tiền trong khoản đầu tư này được dành cho việc duy trì các hệ thống kế thừa hoặc cho một chương trình đổi mới và chuyển đổi. Cũng không chắc chỉ số lợi nhuận trên đầu tư (ROI) của khoản chi phí đầu tư đổi mới là bao nhiêu và làm thế nào những sáng kiến ​​đó được liên kết hài hòa với các chiến lược cốt lõi của tổ chức.

Đối với các ngân hàng, khả năng tiếp tục đầu tư vào chuyển đổi công nghệ số sẽ phụ thuộc vào nỗ lực cải  thiện tỷ suất lợi nhuận. Các ngân hàng có thể học được bài học từ các ngân hàng khác, luôn vượt trội nhờ thúc đẩy hiệu quả, tăng cường khả năng thích nghi và tạo ra văn hóa lấy khách hàng làm trung tâm.

Tóm lược

Điều kiện đầy thách thức ở tất cả các khu vực đồng nghĩa với việc các ngân hàng sẽ cần tập trung vào việc thúc đẩy tỷ suất lợi nhuận nếu họ muốn đầu tư vào chuyển đổi công nghệ số.

Về bài viết này

Các tác giả

Jan Bellens

EY Global Banking & Capital Markets Sector Leader

Passionate leader on innovation in financial services, especially in emerging markets. Global citizen. Keen traveler.

Karl Meekings

EY Global Banking & Capital Markets Lead Analyst

Developing views on the future of banking. Fulham FC follower. Germanophile. Medievalist.

Người đóng góp