Bản tin này nêu bật các vấn đề hải quan và thương mại toàn cầu quan trọng vào tháng 3 năm 2025.
Nội dung chính
- Áp dụng mức thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi mới đối với một số mặt hàng cụ thể kể từ ngày 31 tháng 3 năm 2025
- Áp dụng thuế chống bán phá giá (CBPG) tạm thời đối với một số mặt hàng thép mạ xuất xứ Trung Quốc và Hàn Quốc
- Dự thảo sửa đổi quy định của Luật Hải quan liên quan đến xuất nhập khẩu tại chỗ
- Chuyển quyền sở hữu hàng hóa trong kho ngoại quan của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (doanh nghiệp FDI)
- Thu hồi quyền cấp Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa và quyền tiếp nhận đăng ký mã số chứng nhận xuất xứ hàng hóa (mã số REX) của Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI)
Một số công văn hướng dẫn đáng chú ý:
- Chính sách thuế và thủ tục hải quan áp dụng đối với hàng nhập khẩu gửi chuyển phát nhanh của doanh nghiệp chế xuất (DNCX)
- Tăng cường quản lý nguyên liệu nhập khẩu để sản xuất hàng hóa xuất khẩu
- Tăng cường phòng chống gian lận thương mại liên quan đến xuất xứ hàng hóa
Chi tiết
Áp dụng mức thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi mới đối với một số mặt hàng cụ thể kể từ ngày 31 tháng 3 năm 2025
Ngày 31 tháng 3 năm 2025, Chính phủ ban hành Nghị định số 73/2025/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung mức thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi của một số mặt hàng tại Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi theo Danh mục mặt hàng chịu thuế ban hành kèm theo Nghị định số 26/2023/NĐ-CP ngày 31 tháng 5 năm 2023 (Nghị định 73).
- Cụ thể, Nghị định 73 điều chỉnh mức thuế suất thuế nhập khẩu đối với các mặt hàng được phân loại vào các nhóm sau: thịt gia cầm (nhóm 02.07); quả hạch (nhóm 08.02); quả nho khô (nhóm 08.06); quả táo (nhóm 08.08); quả anh đào (nhóm 08.09); ngô (nhóm 10.05); cồn etylic (nhóm 22.07); bột đậu tương (nhóm 23.04); khí dầu mỏ (nhóm 27.11); các sản phẩm bằng gỗ khác (nhóm 44.21); xe ô tô (nhóm 87.03); ghế ngồi (nhóm 94.01); đồ nội thất khác (nhóm 94.03).
- Đồng thời bổ sung mặt hàng Ethane có mã phân loại 9853.00.00 và mức thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi 0% vào danh mục Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi tại Mục II, Phụ lục II ban hành kèm theo Nghị định 26/2023/NĐ-CP ngày 31 tháng 5 năm 2023.
- Nghị định 73 chính thức có hiệu lực áp dụng kể từ ngày 31 tháng 3 năm 2025.
Vui lòng xem Nghị định 73 để biết thêm chi tiết.
Áp dụng thuế CBPG tạm thời đối với một số mặt hàng thép mạ xuất xứ Trung Quốc và Hàn Quốc
Ngày 1 tháng 4 năm 2025, Bộ Công Thương (BCT) ban hành Quyết định số 914/QĐ-BCT về việc áp dụng thuế CBPG tạm thời đối với sản phẩm thép mạ có xuất xứ từ Trung Quốc và Hàn Quốc (Quyết định 914). Cụ thể như sau:
- Đối tượng áp dụng thuế CBPG là các mặt hàng thép mạ có xuất xứ từ Trung Quốc và Hàn Quốc, được phân lọai theo các mã HS: 7210.41.11, 7210.41.12, 7210.41.19, 7210.49.11, 7210.49.14, 7210.49.15, 7210.49.16, 7210.49.17, 7210.49.18, 7210.49.19, 7210.50.00, 7210.61.11, 7210.61.12, 7210.61.19, 7210.69.11, 7210.69.19, 7210.90.10, 7210.90.90, 7212.30.11, 7212.30.12, 7212.30.13, 7212.30.14, 7212.30.19, 7212.50.14, 7212.50.19, 7212.50.23, 7212.50.24, 7212.50.29, 7212.50.93, 7212.50.94, 7212.50.99, 7212.60.11, 7212.60.12, 7212.60.19, 7225.92.20, 7225.92.90, 7226.99.11, và 7226.99.91.
- Mức thuế CBPG tạm thời được áp dụng cao nhất là 37,13% đối với hàng hóa có xuất xứ từ Trung Quốc và 15,67% đối với hàng hóa xuất xứ từ Hàn Quốc.
- Thời hạn áp dụng là 120 ngày kể từ ngày Quyết định 914 có hiệu lực, tức từ ngày 16 tháng 4 năm 2025.
Vui lòng xem thêm tại Quyết định 914.
Dự thảo sửa đổi quy định của Luật Hải quan liên quan đến xuất nhập khẩu tại chỗ
Ngày 9 tháng 4 năm 2025, Bộ Tài chính đăng tải trên website lấy ý kiến góp ý về Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đấu thầu; Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư; Luật Hải quan; Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu; Luật Đầu tư; Luật Đầu tư công; Luật quản lý, sử dụng tài sản công (Dự thảo). Một trong những vấn đề đã thu hút nhiều sự chú ý từ các hiệp hội doanh nghiệp trong thời gian gần đây liên quan đến quy định về xuất nhập khẩu tại chỗ cũng được đề cập trong Dự thảo.
Luật Hải quan hiện tại thiếu khung pháp lý cho các giao dịch xuất nhập khẩu tại chỗ. Trong khi đó, Nghị định 08/2015/NĐ-CP ngày 21 tháng 1 năm 2015 của Chính phủ định nghĩa giao dịch ba bên xuất nhập khẩu tại chỗ như sau: “Hàng hóa mua bán giữa doanh nghiệp Việt Nam với tổ chức, cá nhân nước ngoài không có hiện diện tại Việt Nam và được thương nhân nước ngoài chỉ định giao, nhận hàng hóa với doanh nghiệp khác tại Việt Nam”. Điều kiện “không có hiện diện tại Việt Nam” đã dẫn đến những khó khăn cho cả cơ quan hải quan và các hiệp hội doanh nghiệp trong quá trình thực hiện.
Chính phủ cũng đã có một dự thảo nghị định cơ bản bãi bỏ quy định về xuất nhập khẩu tại chỗ (trừ giao dịch liên quan đến hàng hóa đặt gia công tại Việt Nam và được tổ chức, cá nhân nước ngoài đặt gia công bán cho tổ chức, cá nhân tại Việt Nam và hàng hóa mua bán giữa doanh nghiệp nội địa với doanh nghiệp chế xuất, doanh nghiệp trong khu phi thuế quan) điều này có thể làm gián đoạn chuỗi cung ứng của một số doanh nghiệp đa quốc gia.
Một số doanh nghiệp có hoạt động kinh doanh với thương nhân nước ngoài có hiện diện tại Việt Nam đã chuyển sang các mô hình kinh doanh khác, chẳng hạn như xuất khẩu hàng hóa vào kho ngoại quan tại Việt Nam hoặc kho nước ngoài hoặc các nước láng giềng trước khi tái nhập khẩu vào Việt Nam, dẫn đến tăng chi phí phát sinh và kém hiệu quả. Việc thiếu khung pháp lý cho giao dịch ba bên xuất nhập khẩu tại chỗ cũng gây khó khăn cho các công ty có hoạt động xuất khẩu trong việc hoàn thuế giá trị gia tăng (GTGT).
Hiện tại, Dự thảo đề xuất thay đổi quy định về hàng hóa xuất nhập khẩu tại chỗ theo hướng là “hàng hóa được giao, nhận tại Việt Nam theo chỉ định của các thương nhân nước ngoài theo hợp đồng mua bán, gia công, thuê mượn giữa các doanh nghiệp Việt Nam với thương nhân nước ngoài”. Điều kiện “không có hiện diện tại Việt Nam” không còn được quy định cụ thể trong Dự thảo. Mặc dù sẽ có nghị định của Chính phủ hướng dẫn chi tiết hơn, nhưng sự thay đổi ở cấp độ luật được kỳ vọng sẽ tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các doanh nghiệp có giao dịch hàng hóa xuất nhập khẩu tại chỗ.
Dự thảo, nếu được thông qua, sẽ duy trì mô hình giao dịch xuất nhập khẩu tại chỗ như hiện tại, đại diện cho một bước quan trọng trong việc hiện đại hóa khung pháp lý hải quan của Việt Nam, nâng cao hiệu quả hoạt động và khả năng cạnh tranh trên thị trường toàn cầu, và thu hút đầu tư vào Việt Nam. Điều này cũng có thể giúp giải quyết những khó khăn hiện tại của cơ quan thuế về hoàn thuế GTGT cho hàng hóa xuất khẩu.
Chuyển quyền sở hữu hàng hóa trong kho ngoại quan của doanh nghiệp FDI
Liên quan đến vấn đề chuyển quyền sở hữu hàng hóa trong kho ngoại quan của doanh nghiệp FDI, trước đây, Cục Xuất nhập khẩu thuộc BCT đã ban hành Công văn số 1147/XNK-CN ngày 12 tháng 10 năm 2020 hướng dẫn doanh nghiệp FDI chỉ được quyền bán hàng hóa (chuyển quyền sở hữu hàng hóa) sau khi làm thủ tục nhập khẩu hàng hóa đó, bao gồm cả việc chuyển quyền sở hữu hàng hóa qua kho ngoại quan. Do đó, để có thể bán hoặc chuyển quyền sở hữu hàng hóa mua từ nước ngoài và gửi vào kho ngoại quan cho thương nhân khác có quyền phân phối hàng hóa đó tại Việt Nam, doanh nghiệp FDI phải hoàn thành thủ tục nhập khẩu, thực hiện quyền nhập khẩu theo quy định tại Nghị định số 09/2018/NĐ-CP ngày 15 tháng 1 năm 2018.
Cơ quan Hải quan và BCT đã có trao đổi về vấn đề này dẫn đến:
- Công văn số 294/XNK-THCS ngày 17 tháng 4 năm 2024 (Công văn 294) của BCT nêu ý kiến rằng việc quản lý các hoạt động diễn ra trong kho ngoại quan thuộc chức năng nhiệm vụ của cơ quan hải quan theo quy định hải quan.
- Công văn số 1937/CHQ-GSQL ngày 14 tháng 4 năm 2025 (Công văn 1937) của Cục Hải quan hướng dẫn Chi cục Hải quan các khu vực. Trên cơ sở ý kiến tại Công văn 294, Công văn 1937 đề cập đến các quy định hải quan liên quan đến việc chuyển quyền sở hữu hàng hóa trong kho ngoại quan, không đề cập đến quyền nhập khẩu cũng như yêu cầu phải hoàn thành thủ tục nhập khẩu.
- Theo hướng dẫn ở trên, có thể hiểu rằng việc chuyển quyền sở hữu hàng hóa trong kho ngoại quan của doanh nghiệp FDI không thuộc sự quản lý của BCT và không cần phải hoàn thành thủ tục nhập khẩu theo quyền nhập khẩu trước khi chuyển quyền sở hữu hàng hóa trong kho ngoại quan.
Vui lòng xem thêm chi tiết tại Công văn 294 và Công văn 1937.
Thu hồi quyền cấp Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa và tiếp nhận đăng ký mã số REX của VCCI
Ngày 21 tháng 4 năm 2025, BCT ban hành Quyết định số 1103/QĐ-BCT về việc thu hồi quyền cấp Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa (C/O), cấp Giấy chứng nhận hàng hóa không thay đổi xuất xứ (CNM) và tiếp nhận đăng ký mã số REX theo chế độ ưu đãi thuế quan phổ cập (GSP) của Na Uy và Thụy Sỹ mà BCT đã ủy quyền cho VCCI thực hiện tại các Quyết định trước đây (Quyết định 1103). Theo đó:
- Cục Xuất nhập khẩu thuộc BCT là đơn vị tổ chức triển khai thực hiện cấp các loại C/O mẫu A, C/O mẫu B, C/O không ưu đãi theo quy định của nước nhập khẩu, CNM, C/O mẫu GSTP và đăng ký mã số REX theo GSP của Na Uy và Thụy Sỹ kể từ ngày 21 tháng 4 năm 2025. Cục Xuất nhập khẩu cũng chịu trách nhiệm thông báo với các nước nhập khẩu và các đơn vị liên quan trong và ngoài nước về việc thay đổi cơ quan cấp loại C/O và tiếp nhận đăng ký mã số REX nêu trên.
- Cục Thương mại điện tử và Kinh tế số thuộc BCT chịu trách nhiệm đảm bảo cơ sở hạ tầng dữ liệu điện tử tại Hệ thống quản lý và cấp chứng nhận xuất xứ điện tử (eCoSys) của BCT để thực hiện quy trình cấp C/O điện tử, thu phí cấp C/O và tiếp nhận đăng ký mã số REX.
- Từ ngày 21 tháng 4 năm 2025 đến hết ngày 4 tháng 5 năm 2025, VCCI và Cục Xuất nhập khẩu có trách nhiệm hoàn thành thủ tục bàn giao hồ sơ, chứng từ và các nội dung liên quan về việc tổ chức thực hiện cấp các loại C/O mẫu A, C/O mẫu B, C/O không ưu đãi theo quy định của nước nhập khẩu, CNM, C/O mẫu GSTP và đăng ký mã số REX. Từ ngày 5 tháng 5 năm 2025, VCCI chấm dứt việc cấp toàn bộ các loại C/O và tiếp nhận đăng ký mã số REX nêu trên.
- Ngoài ra, VCCI cũng có trách nhiệm chủ trì hoặc phối hợp với cơ quan có thẩm quyền trong việc thanh tra, kiểm tra, xác minh xuất xứ hàng hóa do VCCI cấp trong giai đoạn được BCT ủy quyền, thực hiện việc lưu trữ hồ sơ, chứng từ liên quan đến việc cấp các loại C/O và đăng ký mã số REX theo quy định.
Vui lòng xem thêm chi tiết tại Quyết định 1103.
Một số công văn hướng dẫn đáng chú ý