Bản tin Thuế này cập nhật hướng dẫn từ một số Cơ quan Thuế địa phương trong thời gian vừa qua, bao gồm:
Việc tạm hoãn xuất cảnh đối với người đại diện theo pháp luật khi doanh nghiệp thay đổi người đại diện theo pháp luật
Ngày 18 tháng 9 năm 2024, Tổng Cục Thuế (TCT) đã có Công văn 4136/TCT-QLN (Công văn 4136) trả lời Cục Thuế tỉnh Lào Cai về việc tạm hoãn xuất cảnh đối với người đại diện theo pháp luật khi doanh nghiệp thay đổi người đại diện theo pháp luật.
Theo Công văn 4136, trường hợp có đủ căn cứ để xác định tại thời điểm Cơ quan Thuế ban hành thông báo tạm hoãn xuất cảnh, cá nhân không còn là người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp đang bị cưỡng chế thì cá nhân đó không thuộc trường hợp bị tạm hoãn xuất cảnh. Do đó, vẫn tồn tại rủi ro rằng người đại diện theo pháp luật tiền nhiệm có thể bị tạm hoãn xuất cảnh nếu thông báo về việc tạm hoãn xuất cảnh được ban hành trước ngày doanh nghiệp được cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp cập nhật thông tin của người đại diện pháp luật mới.
EY đề xuất quý doanh nghiệp thực hiện rà soát và hoàn thành nghĩa vụ thuế để tránh những ảnh hưởng không mong muốn liên quan đến việc bị tạm hoãn xuất cảnh của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp.
Khoản góp vốn không thông qua tài khoản vốn đầu tư trực tiếp được mở tại một tổ chức tín dụng được phép thì không được xem là khoản góp vốn hợp lệ
Theo Cục Thuế tỉnh Bình Dương tại Công văn số 27659/CTBDU-TTHT ngày 22 tháng 10 năm 2024, trường hợp trước khi được cấp giấy phép thành lập, nếu nhà đầu tư nước ngoài mở tài khoản vốn đầu tư trực tiếp bằng ngoại tệ tại một tổ chức tín dụng được phép để thực hiện các giao dịch thu, chi liên quan đến hoạt động đầu tư trực tiếp tại Việt Nam theo đúng quy trình về quản lý ngoại hối đối với hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam thì khoản tiền đặt cọc thuê đất và tạm ứng mà nhà đầu tư nước ngoài chuyển từ tài khoản vốn nêu trên vào tài khoản của bên cho thuê đất được xem là khoản góp vốn hợp lệ của nhà đầu tư vào doanh nghiệp.
Trường hợp nhà đầu tư nước ngoài chuyển khoản trực tiếp từ nước ngoài vào tài khoản của bên cho thuê đất để thanh toán tiền đặt cọc thuê đất mà không thông qua tài khoản vốn đầu tư trực tiếp được mở tại một tổ chức tín dụng được phép thì không được xem là khoản góp vốn hợp lệ của nhà đầu tư vào doanh nghiệp vì không thực hiện đúng quy định.
Do đó, khi góp vốn, nhà đầu tư của doanh nghiệp cần lưu ý việc sử dụng đúng tài khoản vốn đầu tư trực tiếp tại một tổ chức tính dụng được phép để đảm bảo khoản góp vốn của nhà đầu tư là hợp lệ.
Mức thuế suất hàng khuyến mại tại thị trường nước ngoài
Theo Công văn số 4706/CTCTH-TTHT ngày 18 tháng 10 năm 2024, Cục Thuế Thành phố Cần Thơ hướng dẫn trường hợp doanh nghiệp thực hiện khuyến mại cho khách hàng là công ty nước ngoài đang hoạt động ngoài lãnh thổ Việt Nam. Đối với chương trình khuyến mại, ví dụ, chương trình khách hàng mua 10 sản phẩm sẽ được khuyến mại 1 sản phẩm cùng loại nhưng không thực hiện theo quy định của pháp luật về thương mại thì đối với sản phẩm, hàng hóa khuyến mại doanh nghiệp phải kê khai, tính nộp thuế như hàng hóa, dịch vụ dùng để tiêu dùng nội bộ, biếu, tặng, cho theo quy định tại khoản 5 Điều 7 Thông tư 219/2013/TT-BTC(1).
Hàng hóa dùng để khuyến mại cho khách hàng là công ty nước ngoài hoạt động ngoài lãnh thổ Việt Nam không thu tiền, không có chứng từ thanh toán tiền hàng hóa xuất khẩu qua ngân hàng nên không đáp ứng điều kiện về hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 9 Thông tư 219/2013/TT-BTC, do đó không được áp dụng thuế suất thuế GTGT 0%.
Lưu ý là quy định về hoạt động xúc tiến thương mại hiện hành không đề cập đến điều kiện và thủ tục cần phải thực hiện khi thương nhân thực hiện xúc tiến thương mại đến khách hàng là tổ chức nước ngoài.
Chuyển nhượng dự án đầu tư cho doanh nghiệp khác để tiếp tục thực hiện dự án sản xuất đối tượng không chịu thuế GTGT thì áp dụng thuế suất GTGT 10%
Điều 5, Thông tư 219/2013/TT-BTC quy định các trường hợp không phải kê khai, tính nộp thuế GTGT bao gồm trường hợp tổ chức, cá nhân chuyển nhượng dự án đầu tư để sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT cho doanh nghiệp, hợp tác xã. Quy định này có thể được diễn giải rằng hoạt động chuyển nhượng dự án đầu tư để sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ không chịu thuế GTGT sẽ không được xem là đối tượng thuộc phạm vi điều chỉnh của Điều 5.
1 Thông tư số 219/2013/TT-BTC ngày 31 tháng 12 năm 2013 của Bộ Tài chính (Thông tư 219/2013/TT-BTC) hướng dẫn thi hành Luật thuế GTGT và Nghị định số 209/2013/NĐ-CP ngày 18/12/2013 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều Luật thuế GTGT.
Diễn giải này được xác nhận bởi TCT tại Công văn số 5102/TCT-CS ngày 8 tháng 11 năm 2024. Theo Công văn này, TCT hướng dẫn rằng khi doanh nghiệp chuyển nhượng dự án đầu tư cho doanh nghiệp khác để tiếp tục thực hiện dự án sản xuất sản phẩm không chịu thuế GTGT theo mục tiêu ban đầu của dự án thì phải áp dụng thuế suất GTGT là 10%. Công văn số 5102/TCT-CS không đề cập khả năng doanh nghiệp, hợp tác xã mua dự án có thể được khấu trừ thuế GTGT từ việc nhận chuyển nhượng dự án để tiếp tục sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ không chịu thuế GTGT. Trên cơ sở dự án được chuyển nhượng là để tiếp tục sản xuất hàng hóa không chịu thuế GTGT, có khả năng rằng thuế GTGT đầu vào của người mua tương ứng với việc nhận chuyển nhượng dự án sẽ không được khấu trừ nhưng có thể ghi nhận như chi phí. Vì vậy, khả năng được khấu trừ của thuế GTGT đầu vào của giao dịch chuyển nhượng dự án này cần được đánh giá thêm.
Chứng từ dùng ghi nhận lãi tiền gửi ngân hàng
Theo quy định tại Thông tư 219/2013/TT-BTC thì hoạt động cho vay riêng lẻ, không phải hoạt động kinh doanh, cung ứng thường xuyên của người nộp thuế không phải là tổ chức tín dụng đang là hoạt động không chịu thuế GTGT theo quy định tại khoản 8, Điều 4.
Thông tư 219/2013/TT-BTC cũng nêu một số trường hợp không phải kê khai, tính nộp thuế GTGT bao gồm hoạt động nhận các khoản thu tài chính theo khoản 1, Điều 5.
Quy định trên dẫn đến những hướng dẫn khác nhau và không nhất quán từ Cơ quan Thuế về tác động thuế GTGT đối với lãi tiền gửi ngân hàng. Cụ thể, theo Cục Thuế Hà Nội tại Công văn số 28235/CT-HTr ngày 9 tháng 5 năm 2016, thu nhập từ lãi tiền gửi ngân hàng thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT quy định tại khoản 8, Điều 4. Tuy nhiên, tại Công văn số 2269/CTHN-TTHT ngày 26 tháng 1 năm 2021, Cục Thuế Hà Nội xác nhận rằng người nộp thuế không cần kê khai, tính nộp thuế GTGT cho lãi tiền gửi ngân hàng vì nó là khoản thu tài chính như được quy định tại khoản 1, Điều 5, Thông tư 219/2013/TT-BTC.
Tác động thuế GTGT khác nhau dẫn đến việc áp dụng chứng từ khác nhau khi nhận lãi từ tiền gửi ngân hàng cũng như việc xác định thuế GTGT đầu vào được khấu trừ cũng khác nhau. Xin lưu ý rằng doanh nghiệp được phép khấu trừ thuế GTGT đầu vào đối với hoạt động không phải kê khai, tính nộp thuế GTGT nhưng không được phép khấu trừ thuế GTGT đầu vào phát sinh liên quan đến hoạt động không chịu thuế GTGT.
Gần đây, Cục Thuế tỉnh Bình Định ban hành Công văn số 3332/CTBDI-TTHT ngày 13 tháng 9 năm 2024 xác định rằng lãi tiền gửi ngân hàng có kỳ hạn được xác định là doanh thu thuộc dịch vụ không chịu thuế giá trị gia tăng theo quy định tại khoản 8, Điều 4, Thông tư 219/2013/TT-BTC và yêu cầu doanh nghiệp xuất hóa đơn khi nhận lãi từ ngân hàng.
Tuy nhiên, sau đó của Cục Thuế tỉnh Bình Định tại Công văn số 3642/CTBDI-TTHT ngày 7 tháng 10 năm 2024 xác định rằng khoản tiền nhàn rỗi được gửi tại các ngân hàng và phát sinh thu nhập từ lãi tiền gửi thì khoản lãi tiền gửi này được xác định là một khoản thu tài chính thuộc trường hợp không phải kê khai, tính nộp thuế giá trị gia tăng theo quy định tại Điều 5 Thông tư số 219/2013/TT-BTC. Khi nhận khoản lãi tiền gửi từ ngân hàng, doanh nghiệp không phải lập hóa đơn đối với khoản thu lãi tiền gửi này mà chỉ lập chứng từ thu theo quy định Khoản 1 Điều 5 TT219/2013/TT-BTC.
Tham khảo Công văn 3642/CTBDI-TTHT, doanh nghiệp không phải kê khai, tính thuế và xuất hóa đơn đối lãi từ tiền gửi ngân hàng. Số thuế GTGT đầu vào của hàng hóa, dịch vụ sử dụng cho các hoạt động cung cấp hàng hóa, dịch vụ không kê khai, tính nộp thuế GTGT hướng dẫn tại Điều 5 Thông tư số 219/2013/TT-BTC (trừ khoản 2, khoản 3 Điều 5) được khấu trừ toàn bộ và doanh nghiệp không phải phân bổ thuế đầu vào được khấu trừ đối với hoạt động gửi tiền tại ngân hàng.
Một số Cơ quan Thuế khác cũng có hướng dẫn tương tự với công văn số Công văn số 3642/CTBDI-TTHT của Cục Thuế tỉnh Bình Định(2).
Xin lưu ý rằng quy định này có thể không được áp dụng đối với lãi từ hoạt động cho vay khác của doanh nghiệp.
(2)Tham khảo tại
Công văn số 7097/CTBGI-TTHT ngày 8 tháng 10 năm 2024 do Cục Thuế tỉnh Bắc Giang ban hành