Bản tin Thuế | Tháng 7 năm 2026 | Cập nhật quy định thuế liên quan đến hoạt động kinh doanh trên nền tảng số tại Việt Nam

Các cập nhật quan trọng về thuế đối với hoạt động kinh doanh trên sàn thương mại điện tử và nền tảng số của nhà cung cấp nước ngoài.

Việt Nam đã ban hành Nghị định số 252/2026/NĐ-CP ngày 30 tháng 6 năm 2026 (Nghị định 252) hướng dẫn thi hành Luật Quản lý thuế. Nghị định 252 có hiệu lực từ ngày 1 tháng 7 năm 2026 và quy định chi tiết đối với hoạt động kinh doanh được thực hiện thông qua các sàn thương mại điện tử và nền tảng số của nhà cung cấp nước ngoài, bao gồm:

  • Định nghĩa và các tiêu chí xác định đối với sàn giao dịch thương mại điện tử và nền tảng số có chức năng đặt hàng trực tuyến và thanh toán
  • Người nộp thuế, bao gồm nhà cung cấp nước ngoài và các tổ chức có trách nhiệm khấu trừ, kê khai và nộp thuế thay cho nhà cung cấp nước ngoài
  • Các yêu cầu về đăng ký thuế
  • Hồ sơ kê khai thuế
  • Các nghĩa vụ khác

1. Quy định về định nghĩa và các tiêu chí xác định đối với sàn giao dịch thương mại điện tử và nền tảng số có chức năng cho phép đặt hàng và thanh toán trực tuyến

  • Sàn thương mại điện tử, nền tảng số có chức năng đặt hàng trực tuyến và chức năng thanh toán nếu đáp ứng các tiêu chí sau:

(i)   Cho phép người mua lựa chọn hàng hóa, dịch vụ và xác lập giao dịch mua bán với người bán thông qua nền tảng.

(ii)  Trực tiếp hoặc gián tiếp tham gia vào quá trình thanh toán và có khả năng kiểm soát, đối soát hoặc xác nhận giao dịch thanh toán, bao gồm thực hiện việc thu tiền từ người mua và chuyển cho người bán hoặc phối hợp với tổ chức, cá nhân khác; tổ chức cơ chế thanh toán mà việc hoàn tất giao dịch gắn với việc xác nhận thanh toán trên nền tảng.

(iii)   Việc xác định một nền tảng có chức năng thanh toán hay không được căn cứ vào vai trò thực tế của nền tảng đó trong việc tổ chức, kiểm soát hoặc tham gia vào quá trình thanh toán, không phụ thuộc vào hình thức kỹ thuật hoặc phương thức thanh toán được sử dụng. Các nền tảng chỉ cung cấp dịch vụ đăng tin, quảng cáo hoặc kết nối các bên giao dịch mà không tham gia vào quá trình thanh toán sẽ không thuộc phạm vi điều chỉnh này.

  • Sàn thương mại điện tử, nền tảng số có chức năng thanh toán được định nghĩa là nền tảng số nếu đáp ứng tiêu chí quy định tại điểm (ii) và (iii) nêu trên.

2. Người nộp thuế

  • Người nộp thuế trực tiếp: Các tổ chức và cá nhân nước ngoài thực hiện hoạt động kinh doanh trên các sàn thương mại điện tử hoặc các nền tảng số khác, có trách nhiệm tự thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ thuế theo quy định của pháp luật thuế hiện hành.
  • Đơn vị/tổ chức có trách nhiệm khấu trừ, kê khai và nộp thuế thay:
    • Các doanh nghiệp Việt Nam mua dịch vụ từ các nhà cung cấp nước ngoài
    • Các đơn vị vận hành nền tảng số ở nước ngoài thực hiện khấu trừ và nộp thuế thay cho các nhà cung cấp nước ngoài
    • Các đơn vị vận hành/sở hữu nền tảng số (trong nước hoặc nước ngoài) có chức năng thanh toán thực hiện khấu trừ, kê khai và nộp thuế thay cho các hộ kinh doanh và cá nhân kinh doanh hoạt động trên nền tảng của mình
    • Các đơn vị vận hành/chủ sở hữu nền tảng khác (trong nước hoặc nước ngoài) có đồng thời chức năng đặt hàng và thanh toán thực hiện khấu trừ, kê khai và nộp thuế thay cho các hộ kinh doanh và cá nhân kinh doanh hoạt động trên nền tảng của mình

3. Đăng ký thuế và khai thuế

Đối với hoạt động kinh doanh trên các sàn thương mại điện tử và nền tảng số, hệ thống quản lý thuế của Việt Nam áp dụng cơ chế thu thuế đa tầng, theo đó nghĩa vụ thuế được thực hiện thông qua các kênh thu khác nhau căn cứ vào tính chất và phương thức thực hiện của giao dịch.

a.   Khấu trừ thuế bởi bên mua tại Việt Nam (giao dịch B2B)

Đối với các giao dịch xuyên biên giới mà hàng hóa hoặc dịch vụ được mua bởi các tổ chức Việt Nam từ nhà cung cấp nước ngoài hoặc cá nhân không cư trú, bên mua tại Việt Nam có trách nhiệm khấu trừ, kê khai và nộp thay thuế giá trị gia tăng (GTGT), thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) và/hoặc thuế thu nhập cá nhân (TNCN) tại thời điểm thực hiện thanh toán.

Doanh nghiệp, tổ chức tại Việt Nam có trách nhiệm kê khai các khoản thuế đã khấu trừ theo từng giao dịch phát sinh. Đối với trường hợp phát sinh giao dịch thường xuyên, việc kê khai thuế có thể được thực hiện theo kỳ khai thuế hằng tháng.

Trường hợp nghĩa vụ thuế đã được tổ chức Việt Nam khấu trừ và nộp thay đầy đủ, nhà cung cấp nước ngoài không phải thực hiện kê khai, nộp thuế đối với cùng khoản thu nhập đó. Để tránh việc khấu trừ thuế trùng lặp, tổ chức Việt Nam phải gửi thông báo điện tử cho đơn vị vận hành nền tảng. Thông báo phải thể hiện mã số thuế của bên khấu trừ, số giao dịch/đơn hàng, giá trị giao dịch, số thuế đã khấu trừ và nộp thay, cùng thông tin của người bán hoặc nhà cung cấp dịch vụ. Các bên liên quan có trách nhiệm lưu trữ hồ sơ, chứng từ và cung cấp cho cơ quan thuế theo yêu cầu.

b.   Cơ chế khấu trừ, kê khai và nộp thuế thay bởi các đơn vị vận hành hoặc chủ sở hữu sàn thương mại điện tử và nền tảng số

Trường hợp bên mua Việt Nam không thực hiện khấu trừ thuế, đơn vị vận hành hoặc chủ sở hữu sàn thương mại điện tử, nền tảng số có chức năng đặt hàng và thanh toán trực tuyến (bao gồm cả tổ chức trong nước và nước ngoài) có trách nhiệm khấu trừ, kê khai và nộp thuế thay).

Các đơn vị vận hành nền tảng có trách nhiệm:

  • Khấu trừ, kê khai và nộp thuế thay cho các hộ kinh doanh và cá nhân kinh doanh, bao gồm:
    • Thuế GTGT đối với các giao dịch trong nước
    • Thực hiện khấu trừ, kê khai và nộp thay thuế GTGT và thuế TNDN đối với các nhà cung cấp nước ngoài
    • Thuế TNCN đối với các giao dịch trong nước và giao dịch ở nước ngoài của người bán là cá nhân cư trú thuế tại Việt Nam
       
  • Thuế TNCN đối với các giao dịch trong nước của người bán là cá nhân không cư trú

Nghĩa vụ thuế phát sinh tại thời điểm nền tảng xác nhận giao dịch đã hoàn tất và việc thanh toán đã được thực hiện theo quy chế hoạt động của nền tảng.

Trường hợp nghĩa vụ thuế đã được đơn vị vận hành hoặc chủ sở hữu nền tảng thực hiện khấu trừ và nộp thay đầy đủ, người bán hoặc nhà cung cấp nước ngoài không phải thực hiện kê khai, nộp thuế đối với các giao dịch tương ứng.

Đơn vị vận hành hoặc chủ sở hữu nền tảng có nghĩa vụ kê khai hằng tháng đối với các khoản thuế đã khấu trừ và nộp thay. Trường hợp giao dịch bị hủy hoặc phát sinh việc hoàn trả hàng hóa, dịch vụ, số thuế đã khấu trừ liên quan đến các giao dịch đó được bù trừ với số thuế phải nộp của các giao dịch khác theo quy định.

c.   Cơ chế đăng ký, kê khai và nộp thuế trực tiếp áp dụng đối với các nhà cung cấp nước ngoài

Trong trường hợp nghĩa vụ thuế không được thực hiện thông qua cơ chế khấu trừ và nộp thay bởi bên mua ở Việt Nam hoặc đơn vị vận hành/chủ sở hữu nền tảng, nhà cung cấp nước ngoài có trách nhiệm trực tiếp đăng ký thuế, kê khai thuế và nộp thuế theo các quy định hiện hành của pháp luật thuế Việt Nam.

Nghĩa vụ kê khai và nộp thuế của nhà cung cấp nước ngoài được xác định căn cứ vào tần suất phát sinh hoạt động kinh doanh:

  • Đối với nhà cung cấp nước ngoài kinh doanh thường xuyên: thực hiện khai thuế, nộp thuế theo tháng
  • Đối với nhà cung cấp nước ngoài kinh doanh không thường xuyên: thực hiện khai thuế, nộp thuế theo từng lần phát sinh đối với thu nhập phát sinh tại Việt Nam

4.  Trách nhiệm của các bên liên quan

Trách nhiệm của đơn vị vận hành/sở hữu nền tảng số khi khấu trừ, nộp thay thuế:

  • Thực hiện quản lý các tài khoản đã được cơ quan thuế cấp và lưu giữ dữ liệu giao dịch kinh doanh, tài liệu liên quan đến việc xác định số thuế
  • Khấu trừ, kê khai và nộp thuế đầy đủ, chính xác trên cơ sở các thông tin do nhà cung cấp nước ngoài, tổ chức kinh doanh và cá nhân cung cấp
  • Cung cấp thông tin có liên quan cho cơ quan thuế khi được yêu cầu
  • Thực hiện trả đầy đủ, kịp thời số tiền thuế đã khấu trừ đối với các giao dịch bị hủy hoặc trả lại hàng
  • Tuân thủ các nghĩa vụ khác theo quy định pháp luật

Nhà cung cấp nước ngoài phát sinh thu nhập từ Việt Nam thuộc trường hợp chưa được khấu trừ và nộp thuế thay bởi tổ chức Việt Nam hoặc đơn vị vận hành/chủ sở hữu nền tảng phải thực hiện các nghĩa vụ sau:

  • Trực tiếp đăng ký, khai thuế, nộp thuế thông qua hệ thống thuế.
  • Cung cấp thông tin đầy đủ, chính xác và kịp thời để phục vụ việc xác định nghĩa vụ thuế.
  • Lưu trữ các thông tin liên quan được sử dụng để xác định các giao dịch của khách hàng tại Việt Nam nhằm phục vụ công tác thanh tra thuế. Các thông tin này bao gồm tài khoản ngân hàng, tài khoản thanh toán, ví điện tử hoặc các phương thức thanh toán khác được sử dụng để nhận tiền từ khách hàng tại Việt Nam hoặc từ đơn vị vận hành sàn thương mại điện tử. Thông tin đăng ký phải bao gồm thông tin về tổ chức tài chính hoặc nhà cung cấp dịch vụ thanh toán, quốc gia nơi mở tài khoản, số tài khoản (hoặc mã định danh tài khoản), tên chủ tài khoản và loại tiền tệ của tài khoản.
  • Rà soát và xác nhận tính chính xác, đầy đủ của thông tin tài khoản thanh toán đã kê khai khi có phát sinh thay đổi. Việc xác nhận này phải được thực hiện thông qua hệ thống của cơ quan thuế và gửi kèm hồ sơ khai thuế của kỳ tính thuế tháng 12 hằng năm. Trường hợp không phát sinh thay đổi thì không phải thực hiện xác nhận.

Tải tài liệu