Đáng chú ý, Dự thảo đã bổ sung cơ chế giảm trừ mới đối với chi phí y tế và chi phí giáo dục – đào tạo. Theo đó, người nộp thuế được phép giảm trừ chi phí y tế trong phạm vi từ 20 triệu VNĐ đến 23 triệu VNĐ/năm và chi phí giáo dục – đào tạo trong phạm vi từ 21 triệu VNĐ đến 24 triệu VNĐ/năm, tùy theo phương án chính sách được lựa chọn. Các khoản chi này được áp dụng không chỉ cho người nộp thuế mà còn cho người phụ thuộc, với điều kiện có hóa đơn, chứng từ hợp lệ và không được thanh toán từ nguồn bảo hiểm hoặc các hình thức hỗ trợ khác. Đây là nhóm ưu đãi lần đầu được đề xuất trong pháp luật thuế TNCN, thể hiện định hướng gắn chính sách thuế với an sinh xã hội và phát triển nguồn nhân lực.
3. Nghĩa vụ kê khai, khấu trừ của cơ quan chi trả thu nhập
Trong bối cảnh Dự thảo Nghị định đề xuất nhiều thay đổi liên quan đến nghĩa vụ khấu trừ, kê khai và nộp thuế của tổ chức chi trả thu nhập, doanh nghiệp được dự kiến sẽ chịu tác động trực tiếp, đặc biệt trong việc vận hành hệ thống tiền lương, quản lý hồ sơ chứng từ và thực hiện nghĩa vụ thuế thay cho người lao động. Các đề xuất này phản ánh nỗ lực của cơ quan soạn thảo nhằm tăng cường tính minh bạch và tuân thủ, đồng thời đơn giản hóa thủ tục cho người nộp thuế trong một số trường hợp nhất định. Một số nội dung đáng chú ý bao gồm:
i. Điều chỉnh ngưỡng khấu trừ thuế 10%
Theo quy định hiện hành, tổ chức chi trả thu nhập phải thực hiện khấu trừ thuế thu nhập cá nhân theo tỷ lệ 10% đối với khoản thu nhập trả cho cá nhân không ký hợp đồng lao động hoặc ký hợp đồng dưới ba tháng khi giá trị chi trả từ 2 triệu VNĐ/lần trở lên. Dự thảo đề xuất nâng ngưỡng khấu trừ lên 3 triệu VNĐ/lần và qua đó giảm số lượng cá nhân có nghĩa vụ đề nghị hoàn thuế vào cuối năm. Quy định này được kỳ vọng sẽ hỗ trợ nhóm cá nhân có thu nhập không thường xuyên.
ii. Ngưỡng không cần quyết toán lại vãng lai trên 15 triệu VNĐ khấu trừ tại nguồn
Dự thảo bổ sung quy định cho phép cá nhân không phải thực hiện quyết toán thuế đối với khoản thu nhập vãng lai nếu tổng số thu nhập vãng lai trong năm không vượt quá 15 triệu VNĐ và đã được tổ chức chi trả khấu trừ thuế 10% tại nguồn. Quy định này hướng tới việc giảm bớt thủ tục hành chính cho cá nhân có nhiều khoản thu nhập nhỏ lẻ và đồng thời giúp doanh nghiệp hạn chế số lượng trường hợp cần xác nhận thu nhập khi người lao động thực hiện quyết toán cuối năm.
iii. Quy định về tỷ giá quy đổi thu nhập tính thuế
Đối với các khoản thu nhập phát sinh bằng ngoại tệ, Dự thảo Nghị định tiếp tục duy trì nguyên tắc quy đổi thu nhập ra đồng Việt Nam theo tỷ giá tại thời điểm phát sinh thu nhập. Cụ thể, tỷ giá áp dụng là tỷ giá mua vào do ngân hàng thương mại nơi người nộp thuế mở tài khoản; trường hợp người nộp thuế không có tài khoản hoặc không xác định được tỷ giá của ngân hàng nơi mở tài khoản, doanh nghiệp áp dụng tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố.
Mặc dù Dự thảo Nghị định hiện vẫn đang trong quá trình lấy ý kiến và có thể tiếp tục được điều chỉnh, các nội dung nêu trên cho thấy xu hướng chính sách theo hướng siết chặt điều kiện áp dụng, đồng thời mở rộng có chọn lọc các ưu đãi thuế, đặc biệt liên quan đến chi phí phúc lợi, nhân sự chất lượng cao và các khoản giảm trừ mang tính xã hội.
Trong bối cảnh đó, EY khuyến nghị doanh nghiệp chủ động đánh giá tác động của các đề xuất mới đối với chính sách lương, thưởng và phúc lợi hiện hành, rà soát các quy chế nội bộ, đặc biệt liên quan đến trợ cấp, phúc lợi và các khoản chi trả đặc thù, và theo dõi sát các cập nhật tiếp theo của Dự thảo nhằm kịp thời điều chỉnh và đảm bảo tuân thủ khi quy định chính thức có hiệu lực.