Tin nhanh về Thuế | Tháng 5 năm 2026 | Nghị định 144/2026/NĐ-CP về thuế giá trị gia tăng

Ngày 5 tháng 5 năm 2026, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 144/2026/NĐ-CP (Nghị định 144) sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 181/2025/NĐ-CP (Nghị định 181) hướng dẫn thi hành Luật Thuế GTGT 20241. 

Nghị định 144 chủ yếu nhằm làm rõ quy định, thống nhất cách áp dụng và tháo gỡ một số vướng mắc trong thực tiễn, đặc biệt liên quan đến: 

  • Đối tượng không chịu thuế GTGT 
  • Doanh thu cho mục đích phân bổ thuế GTGT đầu vào được khấu trừ 
  • Khấu trừ thuế GTGT trong trường hợp mua hàng hóa, dịch vụ trả chậm, trả góp 

Nghị định 144 có hiệu lực kể từ ngày 20 tháng 6 năm 2026. 

Tóm tắt một số nội dung sửa đổi như sau:  

1. Đối tượng không chịu thuế GTGT

Nghị định 181

Nghị định 144

Dịch vụ  
bảo hiểm

Quy định chi tiết một số trường hợp không chịu thuế GTGT theo Luật Thuế GTGT 2024, tuy nhiên chưa liệt kê cụ thể các dịch vụ bảo hiểm không chịu thuế đã được quy định tại Luật

Bổ sung và liệt kê cụ thể các dịch vụ bảo hiểm không chịu thuế GTGT theo Luật Thuế GTGT 2024, bao gồm: 

  • Bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm sức khỏe, bảo hiểm người học 

  • Bảo hiểm vật nuôi, cây trồng và các loại bảo hiểm nông nghiệp 

  • Bảo hiểm tàu, thuyền và trang thiết bị phục vụ trực tiếp đánh bắt thủy sản 

  • Tái bảo hiểm 

  • Bảo hiểm các công trình, thiết bị dầu khí và tàu chứa dầu thuê để hoạt động tại vùng biển Việt Nam hoặc khu vực khai thác chung 

Hoạt động  
bán nợ

Hoạt động bán nợ (bao gồm bán khoản phải trả, khoản phải thu và bán chứng chỉ tiền gửi) không chịu thuế GTGT trong trường hợp giao dịch giữa người nộp thuế không phải là tổ chức tín dụng

Không còn đặt ra điều kiện giới hạn về chủ thể giao dịch bán nợ khi xác định đối tượng không chịu thuế GTGT

Mặc dù các sửa đổi làm rõ rằng các tổ chức tín dụng không bị loại trừ, song vẫn chưa rõ ràng liệu phạm vi áp dụng có mở rộng đến mọi chủ thể tham gia giao dịch bán nợ hay chỉ áp dụng trong trường hợp chủ thể là các tổ chức hoạt động trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, kinh doanh chứng khoán, thương mại, phù hợp với tiêu đề và cấu trúc của khoản 4 Điều 4 Nghị định 181. Do đó, nội dung này cần tiếp tục được theo dõi trên cơ sở các hướng dẫn liên quan từ cơ quan thuế có thẩm quyền. 

Tài nguyên thiên nhiên, khoáng sản không chịu thuế GTGT

Giao Bộ Tài chính chủ trì phối hợp với các cơ quan liên quan xác định và điều chỉnh Danh mục sản phẩm tài nguyên, khoáng sản không khuyến khích xuất khẩu hoặc sản phẩm đã qua chế biến có giá trị cao cần khuyến khích xuất khẩu. 

Thay thế các Danh mục tài nguyên thiên nhiên, khoáng sản không chịu thuế GTGT ban hành kèm theo Nghị định 181 

Ngoài ra, Nghị định 144 điều chỉnh thẩm quyền xác định Danh mục sản phẩm xuất khẩu, theo hướng giao Công Thương xác định và đề xuất điều chỉnh Danh mục, gửi Bộ Tài chính chủ trì phối hợp trình Chính phủ xem xét, quyết định. 

2. Phân bổ thuế GTGT đầu vào được khấu trừ sử dụng chung cho hoạt động chịu thuế và không chịu thuế GTGT 

Trường hợp thuế GTGT đầu vào liên quan đến hàng hóa và dịch vụ được sử dụng cho cả hoạt động chịu thuế GTGT và không chịu thuế GTGT, thuế GTGT đầu vào phải được phân bổ để xác định phần thuế được khấu trừ. Các quy tắc về doanh thu được sử dụng làm cơ sở cho việc phân bổ được sửa đổi và tóm tắt như sau: 

Nghị định 181

Nghị định 144

Xác định tổng doanh thu làm căn cứ phân bổ (mẫu số)

Tổng doanh thu bao gồm doanh thu chịu thuế GTGT, doanh thu không chịu thuế GTGT và một số khoản doanh thu khác theo quy định.

Riêng đối với hoạt động kinh doanh ngoại tệ và chứng khoán, doanh thu được xác định là chênh lệch giữa giá bán và giá mua. 

Kế thừa quy định tại Nghị định 181 về phạm vi tổng doanh thu làm căn cứ phân bổ. 

Đồng thời sửa đổi, làm rõ cách xác định tổng doanh thu của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài; doanh thu hoạt động chứng khoán; doanh thu hoạt động kinh doanh bảo hiểm theo hướng xác định theo pháp luật chuyên ngành. 

Doanh thu chịu thuế GTGT làm căn cứ phân bổ (tử số)

Chưa có quy định cụ thể.

Bổ sung và làm rõ quy định doanh thu chịu thuế GTGT làm căn cứ phân bổ bao gồm cả doanh thu từ hàng hóa, dịch vụ không phải kê khai, tính nộp thuế GTGT theo quy định của Luật Thuế GTGT (ví dụ như một số sản phẩm nông nghiệp không phải kê khai, tính nộp thuế GTGT ở giai đoạn thương mại). 

3. Khấu trừ thuế GTGT đối với hàng hóa, dịch vụ mua trả chậm, trả góp

Nghị định 181

Nghị định 144

Xử lý thuế GTGT đầu vào khi đến hạn thanh toán nhưng chưa có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt

Đến thời hạn thanh toán theo hợp đồng, nếu chưa có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt, cơ sở kinh doanh phải kê khai, điều chỉnh giảm số thuế GTGT đầu vào đã khấu trừ.

Giữ nguyên quy định về việc điều chỉnh giảm số thuế GTGT đầu vào đã khấu trừ khi đến hạn thanh toán theo hợp đồng nhưng chưa có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt. 

Đồng thời, bổ sung quy định cho phép cơ sở kinh doanh được kê khai và khấu trừ lại số thuế GTGT đầu vào đã điều chỉnh giảm tương ứng với giá trị hàng hóa, dịch vụ có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt tại kỳ tính thuế phát sinh chứng từ. 

Nhận xét của chúng tôi

Các sửa đổi, bổ sung tại Nghị định 144 chủ yếu mang tính làm rõ và hoàn thiện quy định, nhằm tăng tính nhất quán và phù hợp với các quy định tại Luật Thuế GTGT 2024 và pháp luật chuyên ngành có liên quan. Các nội dung này không làm thay đổi bản chất chính sách thuế GTGT, một số nội dung, như hoạt động bán nợ, vẫn còn cần được làm rõ thêm về phạm vi áp dụng, và do đó cần tiếp tục theo dõi hướng dẫn và quan điểm chính thức từ cơ quan thuế.  


Tải tài liệu