Bản tin Thuế | Tháng 7 năm 2026 | Nghị định 254/2026/NĐ-CP về hóa đơn điện tử và chứng từ điện tử

Tin nhanh tóm tắt một số thay đổi liên quan đến hóa đơn và chứng từ điện tử theo Nghị định 254/2026/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật Quản lý thuế số 108/2025/QH15.

Ngày 30 tháng 6 năm 2026, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 254/2026/NĐ-CP (Nghị định 254) quy định về hóa đơn điện tử và chứng từ điện tử, thay thế Nghị định số 123/2020/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 70/2025/NĐ-CP). Nghị định 254 được ban hành nhằm hướng dẫn thi hành Luật Quản lý thuế số 108/2025/QH15 và tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về hóa đơn điện tử và chứng từ điện tử.  

Cùng ngày, Bộ Tài chính cũng ban hành Thông tư số 91/2026/TT-BTC (Thông tư 91), hướng dẫn thực hiện một số nội dung của Luật Quản lý thuế và Nghị định 254. Kể từ ngày Thông tư 91 có hiệu lực, Thông tư số 32/2025/TT-BTC ngày 31 tháng 5 năm 2025 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện một số điều của Luật Quản lý thuế, Nghị định số 123/2020/NĐ-CP và Nghị định số 70/2025/NĐ-CP hết hiệu lực thi hành. 

Cả Nghị định 254 và Thông tư 91 đều có hiệu lực từ ngày 1 tháng 7 năm 2026. 

Qua rà soát, bên cạnh việc bãi bỏ các quy định liên quan đến hóa đơn do cơ quan thuế đặt in, một số thay đổi đáng chú ý có thể ảnh hưởng đến doanh nghiệp bao gồm: 

  • Các quy định về phạm vi sử dụng các loại hóa đơn điện tử 
  • Các trường hợp không phải lập hóa đơn 
  • Thời điểm lập hóa đơn 
  • Nội dung bắt buộc trên hóa đơn điện tử 
  • Một số hướng dẫn tại Thông tư 91 liên quan đến việc áp dụng hóa đơn điện tử trong thực tế 

1. Làm rõ phạm vi sử dụng hóa đơn có mã, không mã và hóa đơn từ máy tính tiền 

Nghị định 254 giới hạn phạm vi sử dụng hóa đơn điện tử không có mã của cơ quan thuế. 

Nguyên tắc chung là tổ chức kinh tế, hộ kinh doanh và cá nhân kinh doanh sử dụng hóa đơn điện tử có mã của cơ quan thuế, trừ các trường hợp được phép sử dụng hóa đơn điện tử không có mã. 

  • Các đối tượng được tiếp tục sử dụng hóa đơn không có mã bao gồm doanh nghiệp bán hàng hóa hoặc cung cấp dịch vụ trực tiếp cho người tiêu dùng cuối cùng thuộc các lĩnh vực như: 
    • Điện lực 
    • Xăng dầu 
    • Bưu chính 
    • Viễn thông 
    • Nước sạch 
    • Tài chính, ngân hàng 
    • Chứng khoán 
    • Bảo hiểm 
    • Y tế 
    • Thương mại điện tử 
    • Siêu thị 
    • Thương mại 
    • Vận tải 
    • Tài sản mã hóa 
    • Dịch vụ hỗ trợ giao dịch trên sàn giao dịch các-bon 

với điều kiện đáp ứng yêu cầu kỹ thuật về truyền dữ liệu hóa đơn đến cơ quan thuế. 

  • Bên cạnh đó, các tổ chức kinh tế, hộ kinh doanh và cá nhân kinh doanh có hoạt động bán hàng hóa hoặc cung cấp dịch vụ trực tiếp đến người tiêu dùng sử dụng hóa đơn khởi tạo từ máy tính tiền. Các đối tượng này được tiếp tục sử dụng hình thức hóa đơn đã đăng ký và không bắt buộc phải áp dụng hóa đơn khởi tạo từ máy tính tiền. 

Quy định này cho thấy cơ quan quản lý đang có xu hướng phân định rõ hơn đối tượng áp dụng từng loại hóa đơn nhằm tăng cường quản lý dữ liệu hóa đơn điện tử. 

2. Bổ sung một số quy định mới về lập hóa đơn 

Nghị định 254 bổ sung hướng dẫn cụ thể đối với: 

Lập hóa đơn trong hoạt động cho thuê tài sản của tổ chức cho thuê tài chính 

Lập hóa đơn giữa các bên tham gia hợp đồng hợp tác kinh doanh 

3. Bổ sung và làm rõ các trường hợp không phải lập hóa đơn 

Khác với các nghị định trước đây, Nghị định 254 dành riêng một điều khoản để quy định các trường hợp không phải lập hóa đơn, gồm: 

  • Hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh, bao gồm các trường hợp có thu nhập từ: 
    • Hoạt động thuộc diện lập bảng kê thu mua hàng hóa, dịch vụ 
    • Cho thuê bất động sản 
    • Cung cấp sản phẩm, dịch vụ nội dung số cho tổ chức, cá nhân nước ngoài 
    • Đại lý xổ số, đại lý bảo hiểm hoặc đại lý bán hàng đa cấp đã được doanh nghiệp khấu trừ thuế theo quy định 
  • Một số hoạt động tài chính, bao gồm: 
    • Hoạt động tái bảo hiểm 
    • Nhận tiền gửi 
    • Phát hành chứng chỉ tiền gửi 
    • Phát hành chứng khoán sơ cấp 
    • Phát hành giấy tờ có giá 
    • Bán nợ 
    • Giao dịch ngoại tệ 
    • Sản phẩm phái sinh 
  • Đối với giao dịch ngoại tệ, đơn vị phải lập bảng tổng hợp giao dịch phát sinh trong tháng và cung cấp cho cơ quan thuế khi được yêu cầu. 
  • Hoạt động cho mượn tài sản: Nghị định 254 làm rõ trường hợp cho mượn tài sản cố định hoặc công cụ, dụng cụ phục vụ gia công hàng hóa không thu tiền và không chuyển quyền sở hữu thì không phải lập hóa đơn. 

Tuy nhiên, phạm vi áp dụng trên thực tế vẫn cần được hướng dẫn thêm do không phải mọi hoạt động cho mượn đều được đề cập rõ trong Nghị định 254. 

  • Luân chuyển hàng hóa nội bộ: Nghị định 254 cũng làm rõ rằng hàng hóa luân chuyển nội bộ trong doanh nghiệp (ví dụ như giữa các địa điểm hoặc cơ sở sản xuất) chỉ nhằm tiếp tục quá trình sản xuất thuộc trường hợp không phải lập hóa đơn nếu thuộc đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng theo quy định. 

4. Nhiều thay đổi đáng chú ý về thời điểm lập hóa đơn 

Nghị định 254 đã sửa đổi và bổ sung một số quy định về thời điểm lập hóa đơn, bao gồm: 

  • Đối với các khoản tiền đặt cọc để đảm bảo thực hiện hợp đồng cung cấp dịch vụ: Nghị định 254 quy định không bắt buộc phải lập hóa đơn tại thời điểm nhận tiền đặt cọc tiền đối với khoản đặt cọc được thu theo quy định của Bộ luật Dân sự để đảm bảo thực hiện hợp đồng cung cấp dịch vụ. Khác với quy định trước đây, quy định này không còn giới hạn việc áp dụng đối với một số loại dịch vụ cụ thể. 

Tuy nhiên, doanh nghiệp cần lưu ý rằng quy định hiện hành có thể dẫn đến các cách hiểu khác nhau về phạm vi của ngoại lệ nêu trên, bao gồm việc liệu quy định này được áp dụng đối với mọi khoản tiền đặt cọc được xác lập theo Bộ luật Dân sự hay chỉ áp dụng đối với các khoản tiền đặt cọc nhằm bảo đảm thực hiện hợp đồng cung cấp dịch vụ. Do đó, việc xác định thời điểm lập hóa đơn đối với một số giao dịch cụ thể, chẳng hạn như các giao dịch cho thuê bất động sản, có thể cần được tiếp tục làm rõ. 

  • Nghị định 254 mở rộng danh sách ngành nghề được phép lập hóa đơn sau khi hoàn tất đối soát và xác nhận dữ liệu với khách hàng. Các lĩnh vực được bổ sung gồm: 
    • Hoa tiêu hàng hải 
    • Quảng cáo trên báo điện tử 
    • Dịch vụ công nghệ số và nền tảng số 
    • Dịch vụ tài sản mã hóa 
    • Dịch vụ hỗ trợ giao dịch các-bon 
    • Bảo hiểm 
    • Bảo vệ 
    • Cung cấp suất ăn công nghiệp 
    • Sở giao dịch hàng hóa 
    • Thông tin tín dụng 
    • Dịch vụ vận tải hành khách cung cấp cho tổ chức, doanh nghiệp 
  • Đối với các hoạt động tài chính: Nghị định 254 sửa đổi một số quy định về thời điểm lập hóa đơn đối với: 
    • Hoạt động cho vay 
    • Hoạt động đại lý đổi ngoại tệ 
    • Hoạt động đồng bảo hiểm. 

Đáng chú ý, quy định yêu cầu xuất hóa đơn đối với khoản lãi chưa thu nhưng được theo dõi ngoại bảng theo quy định về tín dụng đã được bãi bỏ. 

  • Đối với giao dịch phát sinh vào ban đêm: Doanh nghiệp được phép lập hóa đơn vào ngày làm việc tiếp theo đối với giao dịch phát sinh trong giờ làm việc ban đêm theo quy định của Bộ luật Lao động. 

5. Thay đổi về nội dung hóa đơn 

Nghị định 254 bổ sung và làm rõ một số yêu cầu về nội dung hóa đơn. Các điểm đáng chú ý bao gồm: 

  • Bổ sung quy định cho phép hóa đơn thể hiện cụm từ "bán cho người tiêu dùng" khi người mua là người tiêu dùng cá nhân không cung cấp các thông tin cần thiết để lập hóa đơn theo quy định. Ngoài ra, đối với một số hoạt động đặc thù (như bán hàng tại siêu thị, trung tâm thương mại hoặc rạp chiếu phim), hóa đơn được phép không thể hiện thông tin người mua khi người mua không cung cấp các thông tin này. 
  • Không yêu cầu thể hiện chi tiết từng món ăn đối với trường hợp bán theo suất hoặc theo phần. 
  • Bổ sung thông tin bắt buộc trên hóa đơn bán ô tô và xe máy. 
  • Làm rõ yêu cầu về biển số phương tiện và hành trình chỉ áp dụng đối với dịch vụ vận tải đường bộ. Nghị định 254 cũng làm rõ rằng đối với doanh nghiệp cung cấp dịch vụ vận tải hoặc cho thuê xe theo hợp đồng với khách hàng trên tuyến cố định, hóa đơn không bắt buộc phải thể hiện biển số phương tiện vận tải và thông tin hành trình (điểm đi – điểm đến). Đây là nội dung được nhiều doanh nghiệp vận tải, logistics và vận chuyển hành khách quan tâm do trước đây đã tồn tại các cách hiểu khác nhau về việc có phải ghi nhận các thông tin này trên hóa đơn hay không. 
  • Làm rõ cơ chế lập hóa đơn tổng hợp đối với hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại hoặc biếu tặng theo tháng hoặc quý phù hợp với kỳ khai thuế giá trị gia tăng. 

6. Một số nội dung quan trọng được giao Bộ Tài chính hướng dẫn 

Khác với Nghị định 123, Nghị định 254 không còn quy định chi tiết về: 

  • Thủ tục đăng ký sử dụng hóa đơn điện tử 
  • Thủ tục ngừng sử dụng hóa đơn điện tử 
  • Định dạng hóa đơn điện tử 
  • Các trường hợp được sử dụng hóa đơn điện tử có mã của cơ quan thuế 
  • Thay thế và điều chỉnh hóa đơn điện tử 

Thay vào đó, Nghị định 254 giao Bộ trưởng Bộ Tài chính hướng dẫn chi tiết các nội dung nêu trên. 

Nhìn chung, các hướng dẫn tại Thông tư 91 của Bộ Tài chính kế thừa các nguyên tắc và quy định trước đây về hóa đơn, chứng từ điện tử. Bên cạnh đó, Thông tư 91 có một số điều chỉnh nhằm làm rõ hơn nội dung của các hướng dẫn hiện hành và hỗ trợ việc áp dụng thống nhất trong thực tế. 

Đáng chú ý, Thông tư 91 tiếp tục quy định hóa đơn điều chỉnh đối với hàng hóa, dịch vụ được chiết khấu thương mại, hàng bán bị trả lại hoặc trường hợp quyết toán lại giá trị hàng hóa, dịch vụ theo kết luận của cơ quan có thẩm quyền được kê khai tại thời điểm lập hóa đơn điều chỉnh. Tuy nhiên, Thông tư 91 không còn quy định riêng về việc kê khai hóa đơn điều chỉnh hoặc hóa đơn thay thế đối với các hóa đơn có sai sót liên quan đến các nội dung bắt buộc trên hóa đơn (ví dụ: mã số thuế, tên hàng hóa, quy cách/chất lượng hàng hóa, giá trị tính thuế, thuế suất hoặc tiền thuế) vào kỳ kê khai của hóa đơn gốc như trước đây. 

Do đó, doanh nghiệp cần tham chiếu đồng thời các quy định của pháp luật về thuế giá trị gia tăng và quản lý thuế để xác định thời điểm kê khai phù hợp đối với các hóa đơn điều chỉnh hoặc thay thế này. 

7. Một số lưu ý đối với nhà cung cấp nước ngoài 

Đối với nhà cung cấp nước ngoài sử dụng hóa đơn điện tử theo quy định của pháp luật Việt Nam, Nghị định 254 làm rõ việc chữ ký điện tử trên hóa đơn được thực hiện theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử. 

Bên cạnh đó, Thông tư 91 hướng dẫn việc đăng ký sử dụng hóa đơn điện tử của nhà cung cấp nước ngoài được thực hiện thông qua Hệ thống thông tin quản lý thuế. Theo đó, thay vì đăng ký thông qua Cổng thông tin điện tử dành cho nhà cung cấp nước ngoài như trước đây, việc đăng ký được thực hiện thông qua Hệ thống thông tin quản lý thuế. 

Từ góc độ thực tiễn, doanh nghiệp Việt Nam mua hàng hóa, dịch vụ từ nhà cung cấp nước ngoài tự kê khai thuế tại Việt Nam nên rà soát việc hóa đơn được lập có đáp ứng đầy đủ các yêu cầu theo quy định của pháp luật Việt Nam, đặc biệt trong trường hợp hóa đơn được sử dụng phục vụ việc kê khai thuế hoặc ghi nhận chi phí theo quy định của pháp luật thuế Việt Nam. 

Nhận xét của chúng tôi 

Nghị định 254 và Thông tư 91 đánh dấu bước hoàn thiện tiếp theo của khuôn khổ pháp lý về hóa đơn điện tử và chứng từ điện tử tại Việt Nam, đồng thời thay thế nhiều quy định hiện hành đã được áp dụng trong những năm qua. 

Bên cạnh việc kế thừa phần lớn các nguyên tắc quản lý hóa đơn hiện hành, các văn bản mới đã bổ sung và làm rõ nhiều nội dung thực tiễn liên quan đến phạm vi sử dụng các loại hóa đơn điện tử, các trường hợp không phải lập hóa đơn, thời điểm lập hóa đơn, nội dung hóa đơn và việc xử lý hóa đơn sai sót. Một số nội dung vận hành quan trọng cũng được chuyển sang hướng dẫn tại Thông tư 91 nhằm hỗ trợ áp dụng thống nhất trong thực tế. 

Doanh nghiệp nên rà soát các quy trình quản lý hóa đơn, kê khai thuế và kiểm soát tuân thủ hiện hành để đánh giá tác động của các quy định mới, đồng thời bảo đảm việc triển khai phù hợp kể từ ngày 1 tháng 7 năm 2026.

Tải tài liệu