Bản tin này đề cập các thay đổi đáng chú ý nhất được quy định trong Luật Việt làm 2025 và Nghị định 158/2025/NĐ-CP ngày 25 tháng 6 năm 2025 (Nghị định 158).
Luật Việc làm 2025 đã được Quốc hội thông qua vào ngày 16 tháng 6 năm 2025 và sẽ có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm 2026. Bên cạnh đó, Nghị định 158 hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội 2024 (Luật BHXH) về bảo hiểm xã hội bắt buộc cũng mới được ban hành, đã có hiệu lực từ ngày 1 tháng 7 năm 2025 vừa qua.
Một số điểm chính nổi bật trong Luật Việc làm 2025 bao gồm:
- Mở rộng đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp (BHTN)
- Sửa đổi cơ chế đóng và hưởng BHTN
- Thiết lập Hệ thống thông tin thị trường lao động và Cơ sở dữ liệu về người lao động
Một số điểm chính nổi bật trong Nghị định 158 bao gồm:
- Quy định cụ thể nhóm đối tượng không thuộc diện tham gia bảo hiểm xã hội (BHXH) bắt buộc
- Hướng dẫn về mức tham chiếu
- Hướng dẫn việc tham gia BHXH bắt buộc đối với người quản lý doanh nghiệp không hưởng lương
- Điều chỉnh quy định về thu và truy đóng BHXH bắt buộc
- Hướng dẫn về tiền lương làm căn cứ đóng BHXH
- Hướng dẫn tạm dừng đóng BHXH bắt buộc khi người lao động bị tạm đình chỉ công việc
- Hướng dẫn chế độ hưu trí đối với người vừa tham gia đóng BHXH tự nguyện vừa tham gia đóng BHXH bắt buộc
Những điểm mới nổi bật của Luật Việc làm năm 2025
1. Mở rộng đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp (BHTN)
Bên cạnh nhóm người lao động làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn hoặc xác định thời hạn từ ba tháng trở lên, Luật Việc làm 2025 mở rộng đối tượng tham gia BHTN gồm ba nhóm mới:
- Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn từ một tháng đến dưới ba tháng, bao gồm các thỏa thuận khác có tính chất tương tự, có trả công và chịu sự quản lý điều hành.
- Người lao động làm việc bán thời gian có tiền lương trong tháng bằng hoặc cao hơn tiền lương làm căn cứ đóng BHXH bắt buộc thấp nhất theo quy định của Luật BHXH.
- Người quản lý doanh nghiệp, kiểm soát viên, người đại diện phần vốn góp của doanh nghiệp, thành viên hội đồng quản trị, tổng giám đốc, giám đốc, thành viên ban kiểm soát hoặc kiểm soát viên và các chức danh quản lý khác được bầu của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã có hưởng lương.
2. Sửa đổi cơ chế đóng và hưởng BHTN
Mức đóng BHTN linh hoạt: Người lao động tiếp tục đóng 1% tiền lương tháng. Người sử dụng lao động đóng tối đa 1% với mức cụ thể do Chính phủ quy định thay vì cố định như trước. Ngoài ra, Nhà nước có thể hỗ trợ đóng tối đa 1% từ ngân sách trung ương để hỗ trợ cho quỹ BHTN. Các mức đóng này có thể được điều chỉnh trong trường hợp khẩn cấp như thiên tai, dịch bệnh, khủng hoảng kinh tế nhằm đảm bảo tính bền vững của quỹ.
Người sử dụng lao động có trách nhiệm đóng đầy đủ BHTN cho người lao động. Nếu không thực hiện, người sử dụng lao động phải bồi thường cho người lao động khoản tiền tương ứng với mức trợ cấp thất nghiệp mà họ đáng lẽ được hưởng. Trường hợp vi phạm sẽ bị xử lý theo quy định của Luật BHXH.
Người đủ điều kiện hưởng lương hưu sẽ không được hưởng trợ cấp thất nghiệp: Người lao động nghỉ việc nhưng đủ điều kiện hưởng lương hưu theo Luật BHXH sẽ không được nhận trợ cấp thất nghiệp.
3. Thiết lập Hệ thống thông tin thị trường lao động và Cơ sở dữ liệu về người lao động
Lần đầu tiên, Cơ sở dữ liệu quốc gia về người lao động và Hệ thống thông tin thị trường lao động được thiết lập. Người lao động có quyền truy cập, chỉnh sửa và sử dụng dữ liệu cá nhân đã đăng ký để nhận các dịch vụ việc làm, tư vấn nghề nghiệp, đào tạo lại hoặc hỗ trợ quay lại thị trường lao động. Đồng thời, người lao động có nghĩa vụ cung cấp thông tin đầy đủ, chính xác, kịp thời. Dữ liệu đăng ký bao gồm thông tin nhân thân, quá trình làm việc, trình độ chuyên môn, quá trình tham gia BHXH, BHTN. Người sử dụng lao động có trách nhiệm đăng ký và cập nhật thông tin của người lao động thuộc diện tham gia hợp đồng lao động.
Cơ sở dữ liệu quốc gia về người lao động sẽ được kết nối, đồng bộ và chia sẻ với hệ thống dữ liệu quốc gia tập trung, cơ sở dữ liệu dân cư và các cơ sở dữ liệu chuyên ngành khác.
Những điểm mới nổi bật của Nghị định 158
1. Quy định cụ thể nhóm đối tượng không thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc
Nghị định 158 làm rõ các nhóm không thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc, bao gồm:
- Người lao động làm việc bán thời gian có mức tiền lương thấp hơn tiền lương làm căn cứ đóng BHXH bắt buộc thấp nhất;
- Người lao động làm việc theo hợp đồng thử việc theo quy định pháp luật lao động; và
- Người đang hưởng trợ cấp BHXH, trợ cấp hằng tháng theo Luật BHXH
2. Hướng dẫn về mức tham chiếu
Mức tham chiếu là cơ sở quan trọng để xác định mức đóng, mức hưởng một số chế độ BHXH theo quy định của Luật BHXH. Mức này do Chính phủ quyết định để đảm bảo phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội từng thời kỳ. Cụ thể:
- Khi chưa bãi bỏ lương cơ sở, mức tham chiếu được xác định bằng mức lương cơ sở hiện hành
- Khi lương cơ sở bị bãi bỏ, mức tham chiếu không được thấp hơn mức lương cơ sở tại thời điểm bãi bỏ
- Sau khi lương cơ sở bị bãi bỏ, mức tham chiếu sẽ được Chính phủ điều chỉnh trên cơ sở mức tăng của chỉ số giá tiêu dùng, tăng trưởng kinh tế, phù hợp với khả năng của ngân sách nhà nước và quỹ BHXH
3. Hướng dẫn việc tham gia BHXH bắt buộc đối với người quản lý doanh nghiệp không hưởng lương
Nhóm người quản lý doanh nghiệp không hưởng lương bao gồm những người Việt Nam là người quản lý doanh nghiệp, kiểm soát viên, người đại diện phần vốn góp, thành viên hội đồng quản trị, tổng giám đốc, giám đốc, thành viên ban kiểm soát hoặc kiểm soát viên và các chức danh quản lý do bầu của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã nhưng không hưởng lương.
Đối với người quản lý doanh nghiệp không hưởng lương đồng thời thuộc nhiều đối tượng hoặc một trong các đối tượng quy định tại các điểm b, c, d, đ, e, i, a, l và k Khoản 1 Điều 2 của Luật BHXH thì phải tham gia BHXH bắt buộc theo nhóm đối tượng được liệt kê đầu tiên theo thứ tự ưu tiên. Thứ tự ưu tiên như sau: b, c, d, đ, e, i, a, l và k Khoản 1 Điều 2 của Luật Bảo hiểm xã hội. (Ví dụ người quản lý doanh nghiệp, kiểm soát viên, người đại diện phần vốn nhà nước, người đại diện phần vốn của doanh nghiệp theo quy định của pháp luật; thành viên hội đồng quản trị, tổng giám đốc, giám đốc, thành viên ban kiểm soát hoặc kiểm soát viên và các chức danh quản lý khác được bầu của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã theo quy định của Luật Hợp tác xã có hưởng tiền lương; người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn từ đủ một tháng trở lên, kể cả trường hợp người lao động và người sử dụng lao động thỏa thuận bằng tên gọi khác nhưng có nội dung thể hiện về việc làm có trả công, tiền lương và sự quản lý, điều hành, giám sát của một bên).
4. Điều chỉnh quy định về thu và truy đóng BHXH bắt buộc
Mở rộng, bổ sung các trường hợp truy đóng BHXH bắt buộc:
- Trường hợp người lao động được điều chỉnh tăng lương, làm thay đổi mức lương làm căn cứ tính đóng BHXH
- Trường hợp người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài được gia hạn hợp đồng hoặc ký hợp đồng mới trực tiếp tại nước tiếp nhận lao động thực hiện truy đóng sau khi về nước
- Chủ hộ kinh doanh, người quản lý doanh nghiệp hưởng lương thực hiện đóng BHXH sau thời hạn quy định
Rút ngắn thời hạn truy đóng để tránh phát sinh lãi chậm đóng: Thời hạn truy đóng được rút ngắn còn đến ngày cuối cùng của (i) tháng liền kề sau tháng có quyết định tăng lương hoặc (ii) tháng về nước nếu người sử dụng lao động và người lao động chưa thực hiện đóng BHXH bắt buộc.
Đối với chủ hộ kinh doanh, người quản lý doanh nghiệp hưởng lương chậm đóng BHXH, ngoài số tiền phải đóng, còn phải nộp lãi suất 0,03%/ngày tính trên số tiền chậm đóng và số ngày chậm đóng.
5. Hướng dẫn về tiền lương làm căn cứ đóng BHXH
Tiền lương làm căn cứ đóng BHXH bắt buộc được hướng dẫn cụ thể, đảm bảo thống nhất với Bộ luật Lao động và Luật BHXH, đặc biệt đối với lao động bán thời gian và người quản lý doanh nghiệp hưởng lương:
- Đối với lao động bán thời gian:
- Tiền lương tháng đóng BHXH bắt buộc là tiền lương theo thỏa thuận trong hợp đồng lao động.
- Nếu hưởng lương theo giờ: Tiền lương tháng đóng BHXH = Lương giờ × Tổng số giờ làm thực tế trong tháng.
- Nếu hưởng lương theo ngày: Tiền lương tháng đóng BHXH = Lương ngày × Tổng số ngày làm thực tế trong tháng.
- Nếu hưởng lương theo tuần: Tiền lương tháng đóng BHXH = Lương tuần × Tổng số tuần làm thực tế trong tháng.
- Đối với người quản lý doanh nghiệp hưởng lương: Tiền lương làm căn cứ đóng BHXH bắt buộc là mức lương thực tế mà người quản lý nhận được, tuân theo quy định hiện hành.
6. Hướng dẫn tạm dừng đóng BHXH bắt buộc khi người lao động bị tạm đình chỉ công việc
- Trường hợp người lao động bị tạm đình chỉ công việc từ đủ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng thì người lao động và người sử dụng lao động được tạm dừng đóng BHXH bắt buộc trong thời gian này.
- Trường hợp người sử dụng lao động trả đủ tiền lương cho người lao động trong thời gian ngừng việc từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng thì phải truy nộp tiền đóng BHXH bắt buộc cho thời gian đó.
- Thời hạn đóng bù là ngày cuối cùng của tháng tiếp theo tháng kết thúc việc tạm dừng đóng.
- Số tiền đóng bù bằng với mức đóng BHXH bắt buộc quy định tại Điều 33 và 34 Luật BHXH 2024.
- Nếu đóng bù sau thời hạn này thì thực hiện theo Điều 40 và 41 Luật BHXH (tức là phải trả thêm lãi suất 0,03%/ngày).
- Trường hợp người sử dụng lao động không trả đủ lương thì không phải truy đóng BHXH bắt buộc cho thời gian đình chỉ.
7. Hướng dẫn chế độ hưu trí đối với người vừa tham gia đóng BHXH tự nguyện vừa tham gia đóng BHXH bắt buộc
Người có từ đủ 15 năm đóng BHXH bắt buộc (theo Điều 64 Luật BHXH) hoặc từ đủ 20 năm đóng BHXH bắt buộc (theo Điều 65 Luật BHXH) sẽ được xác định điều kiện nghỉ hưu, mức hưởng lương hưu theo chính sách BHXH bắt buộc.
Trường hợp đã tham gia BHXH tự nguyện trước ngày 1 tháng 1 năm 2021 và có đủ từ 20 năm đóng BHXH tự nguyện trở lên thì điều kiện về tuổi hưởng lương hưu là đủ 60 tuổi đối với nam, đủ 55 tuổi đối với nữ.