Tin nhanh Tư vấn Thuế & Nhân sự | Tháng 7 năm 2025 | Nghị định 219/2025/NĐ-CP quy định về người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam

Tin nhanh cập nhật về Nghị định 219/2025/NĐ-CP quy định về người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam.

Nghị định 219/2025/NĐ-CP được Chính phủ ban hành ngày 7 tháng 8 năm 2025 (Nghị định 219) quy định về điều kiện, trình tự, thủ tục cấp, cấp lại, gia hạn, thu hồi giấy phép lao động (GPLĐ), giấy xác nhận không thuộc diện cấp GPLĐ đối với các đối tượng sau:

  • Người lao động nước ngoài (NLĐNN) làm việc tại Việt Nam theo điều 157 của Bộ luật Lao động.

  • NLĐNN làm việc tại Việt Nam không thuộc diện cấp GPLĐ theo các khoản 1, 2 và 9 Điều 154 của Bộ luật Lao động.

Một số thay đổi đáng lưu ý của Nghị định 219 như sau:

  1. Đối tượng và trường hợp áp dụng

  • Mở rộng và sửa đổi một số quy định về điều kiện vị trí công việc đối với đối tượng chuyên gia, lao động kỹ thuật và giám đốc điều hành, cụ thể như sau: 

  • Giảm yêu cầu kinh nghiệm của chuyên gia chỉ còn hai năm cho chuyên gia có bằng đại học trở lên; bổ sung đối tượng chuyên gia làm việc trong lĩnh vực tài chính, khoa học, công nghệ, v.v. chỉ cần có bằng đại học trở lên và có một năm kinh nghiệm phù hợp với vị trí công việc mà NLĐNN dự kiến làm việc.

  • Giảm yêu cầu kinh nghiệm phù hợp với vị trí công việc mà NLĐNN dự kiến làm việc xuống hai năm đối với lao động kỹ thuật đã được đào tạo tối thiểu một năm hoặc ba năm đối với các đối tượng lao động kỹ thuật còn lại. 

  • Phân loại giám đốc điều hành với người quản lý, cụ thể giám đốc điều hành là đối tượng phải có ít nhất ba năm kinh nghiệm trong lĩnh vực phù hợp với vị trí công việc mà NLĐNN dự kiến làm việc tại Việt Nam. 

  • Quy định cụ thể 15 trường hợp NLĐNN không cần GPLĐ, bao gồm: NLĐNN vào Việt Nam làm việc có tổng thời gian dưới 90 ngày (không giới hạn số lần vào Việt Nam) trong một năm dương lịch; NLĐNN được các bộ, cơ quan ngang bộ hoặc Ủy ban nhân dân (UBND) cấp tỉnh xác nhận vào Việt Nam làm việc trong các lĩnh vực: tài chính, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số quốc gia, các lĩnh vực ưu tiên phát triển kinh tế – xã hội, v.v.

    2. Hồ sơ đề nghị

  • Các giấy tờ trong hồ sơ cấp, cấp lại, gia hạn GPLĐ và giấy xác nhận không thuộc diện cấp GPLĐ đối với NLĐNN phải được hợp pháp hóa lãnh sự, dịch ra tiếng Việt và chứng thực theo quy định của pháp luật, trừ trường hợp được miễn hợp pháp hóa lãnh sự theo quy định.

  • Đối với thủ tục cấp giấy xác nhận không thuộc diện cấp GPLĐ, cập nhật Văn bản đề nghị cấp giấy xác nhận không thuộc diện cấp GPLĐ theo mẫu ban hành kèm theo Nghị định này. 

  • Đối với thủ tục đề nghị cấp GPLĐ, văn bản của người sử dụng lao động (NSDLĐ) báo cáo giải trình nhu cầu sử dụng lao động nước ngoài đã được tích hợp vào hồ sơ yêu cầu đề nghị cấp GPLĐ theo mẫu ban hành kèm theo Nghị định.

    3. Trình tự cấp/gia hạn

  • Nghị định 219 hướng dẫn các quy định về giao dịch điện tử trực tuyến qua cổng Dịch vụ công quốc gia đối với các hồ sơ đề nghị cấp, cấp lại, gia hạn GPLĐ và giấy xác nhận không thuộc diện cấp GPLĐ đối với NLĐNN. 

Theo định hướng cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông, Nghị định 219 đã đơn giản hóa quy trình bằng cách: (i) tích hợp việc xét nhu cầu sử dụng lao động nước ngoài vào quy trình cấp giấy phép lao động; (ii) hồ sơ xin cấp GPLĐ sẽ được nộp cùng với hồ sơ xin cấp Phiếu lý lịch tư pháp thông qua Cổng dịch vụ công quốc gia. Nếu hồ sơ được chấp thuận, cơ quan có thẩm quyền sẽ cấp đồng thời cả GPLĐ và Phiếu lý lịch tư pháp dưới dạng điện tử cho người sử dụng lao động.

  • NSDLĐ nước ngoài có trách nhiệm thông báo với cơ quan có thẩm quyền cấp giấy xác nhận không thuộc diện cấp GPLĐ nơi NLĐNN dự kiến làm việc trước ít nhất ba ngày làm việc, kể từ ngày NLĐNN dự kiến bắt đầu làm việc tại Việt Nam.

  • Nghị định này cũng quy định về ngưỡng thời gian mà NSDLĐ có thể nộp hồ sơ đề nghị cấp GPLĐ cho NLĐNN. Trong vòng 60 ngày nhưng không ít hơn 10 ngày tính đến ngày NLĐNN dự kiến làm việc, NSDLĐ được nộp hồ sơ đề nghị cấp GPLĐ đến Trung tâm Phục vụ hành chính công tại địa phương nơi NLĐNN dự kiến làm việc thông qua các hình thức nộp trực tiếp; thông qua dịch vụ bưu chính công ích; v.v.

Nghị định 219 cũng quy định rõ trường hợp NLĐNN đã được cấp GPLĐ mà có nhu cầu làm việc cho NSDLĐ tại nhiều tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thì không cần phải xin cấp thêm GPLĐ tại các địa phương liên quan. Tuy nhiên, NSDLĐ phải thông báo cho cơ quan có thẩm quyền nơi NLĐNN dự kiến làm việc ít nhất ba ngày trước ngày dự kiến làm việc các thông tin liên quan như: họ tên, tuổi, quốc tịch, số hộ chiếu, v.v.

           4. Cơ quan có thẩm quyền

  • UBND cấp tỉnh được giao thẩm quyền cấp, cấp lại, gia hạn, thu hồi GPLĐ và giấy xác nhận không thuộc diện cấp GPLĐ đối với NLĐNN làm việc cho NSDLĐ có trụ sở, chi nhánh, văn phòng đại diện hoặc địa điểm kinh doanh tại địa phương nơi NLĐNN dự kiến làm.

  • Bên cạnh đó, UBND cấp tỉnh cũng quyết định việc phân cấp cho cơ quan có thẩm quyền thực hiện việc cấp, cấp lại, gia hạn, thu hồi GPLĐ và giấy xác nhận không thuộc diện cấp GPLĐ theo quy định của pháp luật.

    5. Thời hạn của giấy phép lao động/giấy xác nhận

  • Thời hạn tối đa của GPLĐ và giấy xác nhận không thuộc diện cấp GPLĐ là hai năm, và được xác định căn cứ theo thời hạn của các loại giấy tờ như: hợp đồng lao động dự kiến sẽ kí kết; văn bản của bên nước ngoài cử NLĐNN sang làm việc tại Việt Nam; giấy phép kinh doanh, thành lập, hoạt động của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp; v.v.

  • GPLĐ chỉ được gia hạn tối đa một lần với thời hạn không quá hai năm.

    6. Quy định về thu hồi GPLĐ và giấy xác nhận không thuộc diện cấp GPLĐ

Các trường hợp bị thu hồi GPLĐ hoặc giấy xác nhận không thuộc diện cấp GPLĐ được quy định rõ tại Nghị định này bao gồm các trường hợp: GPLĐ hết hiệu lực; NSDLĐ hoặc NLĐNN không thực hiện đúng quy định về cấp, cấp lại, gia hạn GPLĐ; NLĐNN bị khởi tố, truy cứu trách nhiệm hình sự; có văn bản thông báo của NSDLĐ tại nước ngoài về việc không tiếp tục làm việc tại Việt Nam; NSDLĐ tại Việt Nam hoặc nước ngoài chấm dứt hoạt động; v.v. 

Nghị định 219 có hiệu lực ngay trong ngày ban hành và đồng thời chấm dứt hiệu lực của hai  quy định được Chính phủ ban hành trước đó về NLĐNN làm việc tại Việt Nam là Nghị định 152/2020/NĐ-CP1 và Nghị định 70/2023/NĐ-CP2. 

Khuyến nghị Quý Doanh nghiệp tham khảo thêm các điều khoản chuyển tiếp được quy định tại Nghị định này để chủ động nắm bắt thông tin và kịp thời điều chỉnh phù hợp trong công tác quản lý lao động nước ngoài.

1 Nghị định 152/2020/NĐ-CP ngày 30 tháng 12 năm 2020 của Chính phủ quy định về người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam và tuyển dụng, quản lý người lao động Việt Nam làm việc cho tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam.

2 Nghị định 70/2023/NĐ-CP ngày 18 tháng 9 năm 2023 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của nghị định số 152/2020/NĐ-CP ngày 30 tháng 12 năm 2020 của Chính phủ quy định về người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam và tuyển dụng, quản lý người lao động Việt Nam làm việc cho tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam.

Tải tài liệu